Top 10 Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh hay nhất

29-01-2021 10 35422 0 0

Báo lỗi

Chiến tranh toàn cầu thứ hai kết thúc. Phát xít Nhật, kẻ đang chiếm đóng việt nam đầu hàng liên minh. Nhân dân ta giành được chính quyền trên toàn quốc. Ngày 26-8-1945, Hồ Chí Minh từ Việt Bắc về tới Hà Thành, tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Người soạn thảo Tuyên ngôn độc lập. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Thành, Người thay mặt Chính phủ lầm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam mới. “Tuyên ngôn độc lập” là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân, đồng bào và toàn cầu về sự việc chấm hết chính sách thực dân, phong kiến ở việt nam, lưu lại kỉ nguyên độc lập, tự do của nước Việt Nam mới. Bản Tuyên ngôn vừa tố cáo mạnh mẽ tội ác của thực dân Pháp, ngăn chặn thủ đoạn tái chiếm việt nam của những quyền lực thù địch và những phe nhóm có hội quốc tế, vừa bộc lộ tình cảm yêu nước, thương dân và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của tác giả. Mời những bạn tìm hiểu thêm một số bài văn phân tích tác phẩm đã được Toplist tổng hợp trong bài viết dưới đây.

12345678910

1


Bình An

Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” số 1

Trong số những tác phẩm của Bác có những kiệt tác sánh ngang với những thiên cổ hùng văn của dân tộc thì Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm tiêu biểu nhất. Tác phẩm có giọng văn hùng hồn thống thiết, có lí luận chặt chẽ sắc bén, có sức thuyết phục cao đối với người đọc và người nghe- Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh của những con người anh hùng Việt Nam trong nhà tù, trong trại triệu tập trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. “Bản tuyên ngôn Độc lập” là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam (Trần Dân Tiên).

Tuyên ngôn Độc lập mở đầu là nêu thẳng vấn đề. Người nêu những căn cứ pháp lí, “những lẽ phải không ai chối cãi được”. Đó là những câu tuyên bố nổi tiếng được Bác rút ra từ hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của Pháp và Mĩ. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ: “toàn bộ mọi người đều sinh ra… mưu cầu hạnh phúc”. Để làm nổi trội tính phổ biến của những lẽ phải, Người còn nêu những lời trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra… về quyền lợi).

Cách nêu dẫn chứng như thế vừa khéo léo vừa kiên quyết. Khéo léo vì tỏ ra tôn trọng chân lí chung dù chân lí ấy của những nước đang là kẻ thù gây ra. Cách nêu dẫn chứng ấy cũng hàm chứa một sự phê phán. Thực dân Pháp và đế quốc Mĩ- những kẻ xâm lược đã chà đạp lên chân lí, chà đạp lên lương tâm và lý tưởng của cha ông chúng. Đó là cách dùng lí lẽ của kẻ thù để chống lại kẻ thù, dùng gậy ông đập lưng ông. Hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đều nhấn mạnh quyền con người, Bác nói thêm về quyền dân tộc. Câu nói của Người mở đầu cho trào lưu giải phóng dân tộc trên khắp toàn cầu. Đồng thời, đặt Bản tuyên ngôn của việt nam ngang hàng với hai bản tuyên ngôn đã nêu.

Bác lập luận như vậy là để kết tội thực dân Pháp. Những lời bất hủ trong hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ trở thành cơ sở pháp lý để Bác kết tội thực dân Pháp. “Thế mà đã hơn 80 năm nay… nhân đạo và chính nghĩa” Sau khi kết thúc một cách khai quát tôị ác của thực dân Pháp, bản tuyên ngôn nêu lên những dẫn chứng cụ thể để lật mật nạ “bảo hộ” của thực dân Pháp trước toàn thể nhân loại: “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho… dân chủ nào”. Lời kể tội của tác giả hùng hồn và đanh thép. Cách lập luận trùng điệp như: “Chúng thi hành…”, “Chúng lập ra…”. “Chúng thẳng tay chém giết…” thể hiện được tội ác ông xã chất của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Cách dùng hình ảnh của tác giả làm nổi trội sự tàn bạo của thực dân Pháp: “Chúng thẳng tay chém giết những tình nhân nước… chúng tắm những cuộc… bể máu”.

Về kinh tế, Bác cũng kết tội thực dân Pháp từ khái quát đến cụ thể “Chúng bóc lột dân ta đến… tiêu điều”. Bác quan tâm đến những hạng người như: “dân cày và dân buôn trở thành bần hàn”, “chúng không cho những nhà tư sản ta ngóc đầu lên”. Lập luận như vậy là Bác muốn tranh thủ sự ủng hộ của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc bảo vệ nền Độc lập. Cả đoạn văn tác giả chỉ dùng một chủ ngữ “chúng” để chỉ thực dân Pháp, nhưng vị ngữ thì luôn thay đổi: “thi hành”, “lập ra”, “thẳng tay chém giết”, “tắm”… chỉ một ke thù là thực dân Pháp nhưng tội ác của chúng gây ra trên tổ quốc ta cực kì nhiều. Cách lập lụân đanh thép cùng với những dẫn chứng cụ thể khiến kẻ thù hết đường lẩn tránh tội ác.

Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp gây ra là nạn đói khủng khiếp năm 1945: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căm cứ đánh liên minh thì thực dân Pháp quì gối đầu hàng, mở cửa việt nam rước Nhật. Từ đó, nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó, nhân dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu xuân năm mới nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói”.Tác giả cũng không bỏ xót nhữung tội ác khác của bọn thực dân Pháp như “trong năm năm chung bán… cho Nhật”, tội thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa, tội “giết nốt phần đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.”Người kết tội thực dân Pháp một cách hùng hồn và đanh thép như vậy nhằm phơi bày thực chất tan bạo, dã man của thực dân Pháp, lột mặt nạ “khai hoá”, “bảo hộ” của chúng trước nhân dân toàn cầu, khơi lòng căm thù của nhân dân ta với thực dân Pháp.

Tác giả biếu dương sức mạnh dân tộc tỏngcông cuộc chống thực dân phong kiến và giành lấy nền Độc lập “Pháp chạy, Nhật hàng…chính sách dân chủ cộng hoà”. Đoạn văn này diễn tả đầy hào khí. Chỉ có 9 chữ “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, Bác dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động và cực kì oanh liệt của dân tộc ta. Biểu dương truyền thống bất khuất của dân tộc, tác giả nhằm kích thích tinh thần tự hào dân tộc, kích thích ý chí chiến đấu để nhân dân ta quyết tâm chống lại thủ đoạn của thực dân Pháp.Tiếp theo, Người nêu cơ sở chính nghĩa của việc xây dựng nước Việt Nam mới. Việt Minh là tổ chức cách mạng của toàn bộ dân tộc Việt Nam. Việt minh đã đứng về phe liên minh, đã chống lại thực dân Pháp và phát xít Nhật và đã giành chính quyền từ tay Nhật. Hai lần Người nhấn mạnh nền Độc lập của tổ quốc bằng những câu văn điệp ngữ mạnh mẽ: “thực sự là…”.

Trên cơ sở ấy, Người tuyên bố xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ trên tổ quốc Việt Nam…”sau cùng thay mặt cho cả một dân tộc vừa giành được tự do độp lập. Người nêu lời thề “quyết đem toàn bộ tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cảI để giữ vững quyền tự do Độc lập ấy”- Tuyên ngôn Độc lập là kiệt tác của Hồ Chí Minh. Bằng tâm huyết và tài hoa, Người đã thể hiện được khí phách của một dân tộc đang vùng dậy chống đế quốc, thực dân phong kiến, giành Độc lập tự do cho nước nhà. Với Tuyên ngôn Độc lập, lần trước tiên Việt Nam hiện diện trên trường quốc tế với tư cách là một nước tự do và Độc lập và nhân dân toàn cầu cũng thấy được tinh thần quyết tâm bảo vệ nền Độc lập của dân tộc Việt Nam.

Tuyên ngôn Độc lập trước hết là một văn kiện lích sử. Nó là bản văn quan trọng hàng đầu của việt nam. Để có được Tuyên ngôn Độc lập, biết bao đồng bào, đồng chí đã hy sinh trong suốt 80 năm chống Pháp. Tuyên ngôn Độc lập là một cột mốc lịch sử, nó chấm hết giai đoạn mất nước, giai đoạn nhân dân ta sống kiếp ngựa trâu, nô lệ của dân tộc, nó mở đầu một kỉ nguyên mới: kỉ nguyên Độc lập tự do.

Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, thống thiết, Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng sánh ngang với những bản tuyên ngôn trên toàn cầu và những thiên cổ hùng văn của những dân tộc khác như Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” số 2

Ngày 2.9.1945 là một sự kiện lớn, một dấu ấn không phai mờ trong lịch sử dân tộc, trong tâm trí của người dân Việt Nam. Hơn sáu mươi năm đã trôi qua nhưng mỗi khi đánh giá lại những thước phim tư liệu chúng ta lại hồi hồi như đang đứng giữa Quảng trường Ba Đình năm ấy và lại rưng rưng cảm giác xúc động vui sướng, tự hào khi nghe giọng Bác trầm ấm “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập – mội văn kiện lịch sử đặc biệt – một áng văn chính luận bất hủ. Toàn văn bản tuyên ngôn độc lập không dài, chỉ gói gọn trong tầm sắp đầy một ngàn chữ những cực kì chặt chẽ và súc tích. Bản Tuyên ngôn chia làm ba phần rõ rệt, mỗi phần một ý, liền mạch với nhau theo một bố cục chặt chẽ mạch lạc.

Phần đầu, bản Tuyên ngôn nêu lên những chân lí về nhân quyền và dân quyền. Tác giả trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng toàn cầu, bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp là có dụng ý sâu sắc. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ phát hành sau khi nước Mĩ đấu tranh giành độc lập thành công. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền cũng phát hành trong thắng lợi của cách mạng Pháp, cuộc cách mạng của những thị dân và nông dân chống áp bức, bất công. Lời lẽ của hai bản Tuyên ngôn trên tự thân đã nêu lên những chân lí, là kết quả của những cuộc cách mạng có.

Tính chất tiên phong của những nước có tác động lớn trên toàn cầu, khiến cho không ai rất có thể phủ nhận tính đúng đắn của chúng. Ta rất có thể thấy sự hiểu biết và suy xét kĩ càng của vị Chủ tịch khi trích dẫn những chân lí đó. Hơn thế Người còn vận dụng sáng tạo: “Suy rộng ra câu ấy có tức là: toàn bộ những dân tộc trên toàn cầu đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng đều có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và cũng đầy thuyết phục.

Điều đáng nói hơn nữa là ngay ở đoạn đầu này, cũng đó là lời trích dẫn bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền đã toả ra chiến đấu mạnh mẽ và tiềm tàng của hành động trái ngược hẳn: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp tổ quốc ta, áp bức đồng bào ta”. Rõ ràng qua cách lập luận như thế, một thực sự được phơi bày cách hiển nhiên là thực chất của thực dân Pháp ở Việt Nam trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Kết thúc phần này là một câu khẳng định ngắn gọn dầy sức thuyết phục: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Mở rộng hơn, phần thứ hai liệt kê ngắn gọn và đầy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra trên tổ quốc ta trong suốt gần một trăm năm đô hộ. Trước tiên, chúng tước đoạt tự do chính trị, “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”. Kế đó là “chúng thi hành những luật pháp dã man, ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết…” Cả đoạn dày đặc những câu liệt kê định tội rắn rỏi, tố cáo toàn diện tội ác cùa bọn cướp nước. Từng câu, từng chữ đã nêu bật thực chất bọn xâm lược. Thực dân Pháp đã thi hành chính sách ngu dân, tiêu diệt văn hoá, đó là muốn diệt trừ tận gốc bản sắc dân tộc, ý thức lịch sử và truyền thống dân tộc bằng phương pháp “lập ra nhà tù nhiều hơn thế trường học”.

Chúng đàn áp thẳng tay và dã man những tình nhân nước, “tắm những cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”, cướp đoạt trắng trợn và bất công quyền thiêng liêng nhất của con người: quyền được sống. Đó là thực chất khai hoá, cái gọi là đem văn minh đến cho người bản xứ mông muội. Chúng còn “bóc lột dân la đến xương tuỷ… cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu… đề ra hàng trăm thứ Thuế VAT vô lý, làm cho dân ta trở thành tin cùng… chúng bóc lột công nhân ta một cách cực kì tàn nhẫn”. Hành động của chúng thật hết sức vô nhân đạo và chánh nghĩa. Hơn nữa, khi bị Nhật tước khí giới, chúng đã bỏ chạy, đầu hàng, bán nước hai lần cho Nhật. Đó là thực chất bảo hộ của chúng, thực sự lịch sử đã tố cáo thực chất dối trá, hèn nhát của bọn xâm lược.

Chỉ trong một đoạn ngắn hai mươi mốt câu, tác giả đã xé toang chiêu trò “khai hoá, bảo hộ” giả dối bịp bợm mà bây lâu chúng dùng để che đậy những việc làm xấu xa độc ác. Tác giả dùng liên tiếp những sắc thái từ cao độ: hắn, tuyệt đối không cho, dã man, thẳng tay chém giết, tắm… trong những bể máu, bóc lột đến tận xương tuỷ…. ngôn ngữ linh hoạt, sắc bén, đầy hình ảnh cụ thể, chính xác, gợi tả, tỏ thái độ căm giận sâu sắc trước những tội ác man rợ đó. Điệp từ chúng xuất hiện dày đặc, lồng trong những câu song hành, đồng nghĩa, như những nhát búa đập thẳng vào lớp vỏ bọc hoa mĩ bọn thực dân vẫn tuôn ra lâu nay, tạo những âm vang sóng dội, nhấn mạnh và trở đi quay về, như khắc sâu ghi nhớ, như kết án luận tội đồng thời tỏ ra sức mạnh của chúng ta, sức mạnh của chính nghĩa. Đối lập với những hành động phi nhân đó của thực dân Pháp cuộc đấu tranh đầy nhân đạo chính nghĩa của nhân dân ta.

Từ những hành động tàn nhẫn của thực dân Pháp như khủng bố Việt Minh, giết chính trị phạm, tác giả dẫn dắt chúng ta đến những hành động nhân đạo, khoan hồng của quân và dân ta: giúp nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Điệp ngữ thực sự là… đã khẳng định thắng lợi của ta: ta đã lấy lại tổ quốc từ trong tay Nhật, tổ quốc mà thực dân Pháp đã cướp lấy rồi bán cho phát xít Nhật. Chúng ta chiến đấu chống phái xít, đứng về phía mặt trận dân chủ chống phát xít, có vai trò và vị trí xứng đáng trước toàn cầu chính do sức mạnh tự chủ tự thân của dân tộc.

Như vậy những nước tiến bộ trên toàn cầu phải đồng tình ủng hộ quyền được hưởng tự do độc lập một cách chính đáng của dân tộc ta. Câu tuyên bố “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” ngắn gọn và súc tích, nghe như một lời reo vui. Câu này cũng rất có thể làm một ví dụ tiêu biểu cho văn phong Hồ Chí Minh là ngắn gọn chuẩn xác mà đầy uy lực, giàu ý nghĩa sâu sắc. Tuyên bố với toàn cầu về sự việc xây dựng của một tổ quốc mới nhưng đã phải chịu nhiều đau thương, tác giả đã rất đanh thép và triệt để khi sử dụng những cụm từ thoát li hẳn, xoá bỏ hết, xóa khỏi toàn bộ để nhấn mạnh sự phủ định tuyệt đối mọi quan hệ lệ thuộc với Pháp, chặt nốt những mắt xích sau cùng ràng buộc Việt Nam, để tổ quốc này đứng lên trong tự do hoàn toàn, xây dựng một chính sách mới.

Tự do vừa giành được thật vô giá. Để có được nó, nhân dân ta đã phải đánh đổi bằng bao nhiêu hi sinh, bao nhiêu xương máu và tâm huyết. Thế mà vẫn còn đó đó bao nhiêu thù trong giặc ngoài lúc hiện giờ đang lăm le bóp chết sự sống mới hình thành của nước Việt Nam non trẻ. Hiểu được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân nêu lên lời tuyên bố trịnh trọng và quyết liệt “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thực sự đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem toàn bộ tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Đó đó là tinh thần của cả một dân tộc anh hùng quyết hi sinh toàn bộ để giữ lấy độc lập, tự do. Cụm từ tự do và độc lập được lặp lại ba lần, như khắc sâu vào tâm trí muôn triệu người dân Việt, vang lên mạnh mẽ và rung động như tiếng kèn xung trận hào hùng. Lời tuyên bố nghe như một lời thề sắt đá và thiêng liêng, vừa khích lệ nhân dân ta vừa cảnh báo kè thù.

Đây là bản Tuyên ngôn độc lập lần trước tiên tuyên bố với toàn cầu về sự phát hành của một nhà nước mới, lưu lại một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập tự do cho một dân tộc bất khuất kiên định. Nó lưu lại thắng lợi trước tiên của một nước ở châu Á. Mặt khác, bản Tuyên ngôn còn là một áng văn chính luận mẫu mực, đanh thép và lôi cuốn ở lí lẽ và lập luận chặt chẽ, ở từ ngữ, hình ảnh dễ cảm, chính xác, mạnh mẽ. Ở câu văn gọn mà sắc, giản dị mà hùng hồn, đã vừa cảnh cáo, vạch mặt kẻ thù, vừa khích lệ, động viên tinh thần nhân dân và tranh thủ sự đồng tình quốc tế.

rất có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kế thừa được những chân lí của lịch sử dân tộc và toàn cầu vừa mang tính thời đại. Bản tuyên ngôn còn đồng thời mang tính tính lịch sử và mang tính văn chương. Bởi thế nó mãi mãi là áng văn bất hủ, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam yêu nước.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” số 3

Vị lãnh tụ vĩ đại của nước Việt Nam ta không ai khác ngoài Bác Hồ. Người là danh nhân văn hóa toàn cầu khiến ai cũng phải nghiêng mình. Người đã để lại cho nền văn học nước nhà một kho tàng tác phẩm giá trị. Và bản tuyên ngôn độc lập là một trong số đó.Tác phẩm được soạn thảo vào trong ngày 26 tháng 8 năm 1945 tại số nhà 48 Hàng Ngang. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, bác đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản tuyên ngôn có kết cấu ba phần: cơ sở pháp lý – cơ sở thực tiễn – khẳng định.

Bản tuyên ngôn mở đầu bằng phương pháp trích dẫn những lời bất hủ của “tuyên ngôn độc lập mĩ” và “tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của pháp. Cả hai bản tuyên ngôn này đều đề cập đến quyền tự do, quyền sống, quyền bình đẳng của con người. Người trân trọng, tôn vinh những lời lẽ trong hai văn bản này. Người khẳng định: “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Bởi đây là thành quả của những cuộc cách mạng tháng Tám tiến bộ và chân lí mang đầy tính nhân văn của nhân loại. Nhà văn đấu tranh cho quyền của con người. Từ hai bản tuyên ngôn Bác đã vận dụng sáng tạo. Từ quyền của con người, Bác nâng lên quyền của cả dân tộc.

Tầm nhìn sâu rộng của Bác đã tạo thành một lời khẳng định đanh thép: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa sâu sắc là: toàn bộ những dân tộc trên toàn cầu đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng đều có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Việc trích dẫn hai văn bản này có tác dụng rất lớn. Nó như một cách “gậy ông đập lưng ông”, đập tan mọi luận điệu xảo trá của kẻ thù, tố cáo tội ác của chúng. Đồng thời bằng phương pháp này, Bác đã đặt tuyên ngôn của Việt Nam sánh vai với tuyên ngôn Pháp và Mỹ và khơi dậy mạnh mẽ trào lưu đấu tranh giải phóng dân tộc. Kết thúc phần mở đầu là câu khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn không gì khác ngoài tội ác của bọn thực dân và lập trường chính nghĩa của ta. Để tố cáo bộ mặt thối nát của thực dân Pháp, Bác dùng một câu vừa khẳng định, phủ định. Bác đã lật ngược lại vấn đề: “thế mà hơn 80 năm nay”. Bác đã vạch trần luận điệu xảo trá của thực dân Pháp, giáng đòn phủ đầu về phía chúng. Tội ác của bọn thực dân được vạch trần trên những khía cạnh: chính trị-văn hóa, kinh tế. “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man, lập ra ba chính sách không giống nhau ở Trung, Nam, Bắc, chúng lập ra nhà tù nhiều hơn thế trường học, chúng thẳng tay chém giết những tình nhân nước thương nòi của ta.

Chúng tắm những cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu; thi hành chính sách ngu dân; dùng rượu cồn thuốc phiện để làm cho nòi giống ta suy nhược. Thực dân Pháp nói tới An Nam để khai hóa, văn minh, tự do, bình đẳng, bác ái nhưng ngược lại. toàn bộ những tội ác trên đã cho thấy sự bịp bợm, dối trá của bọn chúng. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến dân ta nghèo nàn thiếu thốn, việt nam xơ xác tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đã đề ra hàng trăm thứ Thuế VAT vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở thành bần hàn. Chúng không cho những nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách cực kì tàn nhẫn. Để thấy được tội ác ông xã chất của bọn chúng, Người đã sử dụng phương pháo lặp cấu trúc cú pháp phối kết hợp liệt kê. Lời văn đanh thép của Người thể hiện rõ sự căm hờn khiến cho người đọc, người nghe dấy lên lòng căm thù ghê gớm. Đặc biệt là hình ảnh “tắm cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”. Hình ảnh này có sức gợi hình gợi cảm hết sức mạnh mẽ.

Nhưng tội ác của chúng vẫn chưa phải là hết. Trong năm năm chúng bán việt nam hai lần cho Nhật. Mùa thu năm 1940, Nhật vào Đông Dương, Pháp đã “quì gối đầu hàng”. Từ đó nhân dân ta lại chịu hai tầng xiềng xích Pháp – Nhật khiến từ Quảng Trị tới Bắc Kỳ hơn hai triệu đồng bào ta chết đói. Chúng còn thẳng tay đàn áp, khủng bố Việt Minh ta. Tội ác của chúng đã khiến dân ta khốn khỏi cùng cực. Ta có lập trường chính nghĩa của ta. Đồng bào ta vẫn giữ một thái độ nhân đạo và khoan hồng. thực sự là từ mùa thu năm 1940, việt nam đã thành thuộc địa của Nhật. Khi Nhật đầu hàng liên minh thì nhân dân ta toàn quốc nổi dậy giành chính quyền. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị, dân ta đã đánh đổ mấy tầng xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Với giọng điệu nhanh dồn dập, sử dụng nhiều từ khẳng định: “thực sự là…”, Người đã thành công trong việc khẳng định ta chính nghĩa, Pháp phi nghĩa, ta có độc lập tự do là tất yếu.

Phần cuối của bản tuyên ngôn là lời tuyên bố. Lời tuyên bố này là với Pháp, với liên minh, với nhân dân Việt Nam và toàn cầu. Đồng thời khẳng định ý chí quyết tâm giữ vững độc lập tự do của nhân dân ta: “toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem toàn bộ tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy.”cũng như Bình ngô đại cáo và Nam quốc sơn hà, bản Tuyên ngôn độc lập là áng thiên cổ hùng văn của dân tộc ta.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” số 4

Mùa thu năm 1945, toàn quốc ta tưng bừng trong niềm sung sướng hân hoan. Cách mạng tháng Tám thành công đã rũ bỏ khỏi vai người dân Việt Nam những xiềng xích nô lệ và áp bức, đưa họ qua ngưỡng cửa tối tăm bước tới vùng sáng độc lập tự do. Sáng ngày 2/9, một buổi sáng trời trong với nắng vàng êm ấm, trước hàng triệu nhân dân trên quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam tự do, độc lập và dân chủ.

Bản tuyên ngôn được Người viết ra trong một tâm trạng vui sướng nhất. Bằng toàn bộ tâm hồn và trí tuệ, bằng những xúc cảm mãnh liệt, người đã truyền đến triệu trái tim nhân dân những rung động sâu xa và thấm thía, đồng thời tuyên bố một cách vững chắc và hào hùng với toàn cầu về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của việt nam.

Toàn văn bản tuyên ngôn không dài, chỉ gói trọn trong tầm sắp đầy một ngàn chữ nhưng cực kì chặt chẽ và súc tích. Bản Tuyên ngôn chia làm ba phần rõ rệt, mỗi phần một ý, liền mạch với nhau theo một bố cục chặt chẽ mạch lạc… Phần đầu bản Tuyên ngôn nêu lên những chân lý về nhân quyền và dân quyền. Tác giả trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng toàn cầu, bản “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ và bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp đã có dụng ý sâu sắc. Bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ phát hành sau khi nước Mỹ; đã đấu tranh giành độc lập thành công.

Bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” cũng phát hành trong thắng lợi của cách mạng Pháp, cuộc cách mạng của những thị dân và nông dân phản kháng lại áp bức, bất công. Lời lẽ của hai bản tuyên ngôn trên tự thân đã nêu lên những chân lý, lại đại diện cho những cuộc cách mạng có tính tiên phong của những nước có tác động lớn trên toàn cầu, nên mang tính công pháp quốc tế, khiến cho không ai rất có thể phủ nhận tính đúng đắn của chúng. Ta rất có thể thấy sự hiểu biết và suy xét kĩ càng của vị Chủ tịch khi trích dẫn những chân lý đó. Hơn thế Người còn vận dụng sáng tạo: “Suy rộng ra, câu ấy có tức là: toàn bộ dân tộc trên toàn cầu đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng đều có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát hơn và cũng đầy thuyết phục. Điều đáng nói hơn nữa là ngay ở đoạn đầu này, cũng đó là lời trích dẫn bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” đã tỏa ra sức chiến đấu mạnh mẽ và tiềm tàng của Tuyên ngôn độc lập. chính vì chính phủ Pháp chính phủ phụng sự cho tinh thần của “Tuyên ngôn nhân quyền” đầy lẽ phải kia lại đang thi hành những hành động trái ngược hẳn; “Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do… hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Rõ ràng qua cách lập luận như thế, một thực sự được phơi bày một cách hiển nhiên: thực chất của thực dân Pháp ở Việt Nam là trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa, kết thúc phần này là một câu khẳng định ngắn gọn và đầy sức thuyết phục.

Mở rộng hơn, phần hai liệt kê ngắn gọn và đầy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra trên tổ quốc ta trong suốt gần một trăm năm đô hộ. Trước tiên, chúng tước đoạt tự do chính trị “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút quyền tự do dân chủ nào…”, “chúng thẳng tay chém giết những người tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”, “chúng thi hành những luật pháp dã man ”, “chúng lập ba chính sách không giống nhau ở Trung, Nam, Bắc, để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết”…

Chỉ trong một đoạn ngắn hai mươi mốt câu, tác giả xé toang chiêu trò “khai hóa, bảo hộ” giả dối bịp bợm lâu nay chúng dùng để che đậy những việc làm xấu xa độc ác. Từ những hành động tàn nhẫn của thực dân Pháp như khủng bố Việt Minh, giết những người tù chính trị… tác giả dẫn dắt chúng ta đến những hành động nhân đạo. Chúng ta chống phát xít, chúng ta đứng về phía mặt trận dân chủ chống phát xít, chúng ta có vai trò và vị trí xứng đáng trước toàn cầu chính do sức mạnh tự thân của dân tộc.

Tự do vừa giành được ấy thật vô giá, để có được nó, nhân dân ta đã phải đánh đổi bằng bao nhiêu hy sinh, bao nhiêu xương máu và tâm huyết. Ấy thế mà vẫn còn đó đó bao nhiêu quyền lực thù trong giặc ngoài đến, lúc bấy giờ đang lăm le bóp chết sự sống mới hình thành của nước Việt Nam non trẻ, hiểu được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân nêu lên lời tuyên bố trịnh trọng và quyết liệt.Đây là bản Tuyên ngôn độc tập lần trước tiên tuyên bố với toàn cầu về sự phát hành của một nhà nước mới, lưu lại một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do cho một dân tộc bất khuất kiên định. Nó lưu lại thắng lợi trước tiên của một nước thuộc địa châu Á.

Mặt khác, bản Tuyên ngôn coi là một áng văn chính luận mẫu mực, đanh thép và lôi cuốn ở lý lẽ và lập luận chặt chẽ, ở từ ngữ, hình ảnh dễ cảm, chính xác, mạnh mẽ, ở câu văn gọn mà sắc, giản dị mà hùng hồn, đã vừa cảnh cáo, vạch mặt kẻ thù, vừa khích lệ, động viên tinh thần nhân dân, và tranh thủ sự đồng tình quốc tế.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” số 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại, toàn bộ khát vọng và nhân cách cao đẹp của Người đều thể hiện trong sự nghiệp cách mạng, quân sự, ngoại giao, giáo dục, văn hóa,… Trong số đó sự nghiệp văn chương là một trong những điểm nhấn quan trọng khi nói về tư tưởng đạo đức và phong thái Hồ Chí Minh. Người viết văn không phải chỉ để thỏa mãn cái thú tao nhã của văn nhân nghĩa sĩ, mà sinh thời văn thơ của Người luôn đóng một vai trò trò quan trọng trong việc phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng đi đến thành công.

rất có thể nói rằng trong bước đường cách mạng suốt cả cuộc đời, văn thơ của Người luôn theo sát và đóng vai trò hỗ trợ mọi lúc mọi nơi. Điển hình cho việc văn học song hành với cách mạng phải nói tới tác phẩm sáng giá nhất của Hồ Chủ tịch, văn kiện có ý nghĩa sâu sắc lịch cực kì quan trọng, đặt dấu mốc quan trọng cho nền độc lập của dân tộc ấy là bản Tuyên ngôn độc lập, được Bác tuyên đọc vào trong ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Thành, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Với bối cảnh lịch sử quan trọng, Chiến tranh toàn cầu thứ hai kết thúc, phát xít Nhật buông vũ khí đầu hàng quân liên minh, nhận thấy thời cơ giải phóng đang đi đến, Đảng đã tiến hành phát động nhân dân toàn quốc nổi dậy giành chính quyền từ tay Nhật. Tổng khởi nghĩa thành công, ngày 26/8/1945 Bác Hồ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Thành, tức tốc soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập tại căn nhà số 48, phố Hàng Ngang. Ngày 2/9/1945, Hồ Chủ tịch đã đã tuyên đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước hàng triệu người dân Việt Nam tại Quảng trường Ba Đình Hà Thành, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chấm hết hơn 80 năm xiềng xích nô lệ, giành lại độc lập chủ quyền từ đế quốc Pháp và phát xít Nhật.

Đồng thời cũng chính thức chấm hết chính sách phong kiến, quân chủ chuyên chế đã tồn tại hàng nghìn năm trên tổ quốc ta, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc, kỷ nguyên của độc lập, tự do và tự chủ. Bản tuyên ngôn cũng là lời công kích mạnh mẽ đến những quyền lực thù địch đang nhăm nhe quay lại xâm lược việt nam, đập tan những luận điệu xảo trá, thủ đoạn thâm độc của chúng. Khuyến khích, cổ vũ, động viên những dân tộc đang bị áp bức trên toàn cầu mạnh mẽ đứng lên giành lại chính quyền, độc lập tự chủ cho tổ quốc của tôi, và tranh thủ sự đồng tình, thiện chí giúp đỡ của những vương quốc khác trên toàn cầu.

Tuyên ngôn độc lập với vai trò là một văn kiện có ý nghĩa sâu sắc lịch sử to lớn, thì bản thân nó còn là một áng văn chính luận xuất sắc với những hệ thống luận điểm, luận cứ, chặt chẽ, ngắn gọn và súc tích, mang tính thuyết phục cao. Thể hiện tài năng ấn tượng của Bác trong lĩnh vực văn chính luận với ngòi bút sắc bén, uyên bác, bên cạnh biệt tài thơ ca trữ tình chính trị.

Luận điểm trước tiên Bác đưa ra trong tác phẩm ấy là đưa ra cơ sở pháp lý dựa trên những văn kiện lịch sử của những nước lớn, đã từng được ra mắt trước đây để làm nền móng cho bản tuyên ngôn của tôi. trước tiên Người đã trích dẫn một đoạn rất ấn tượng trong bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776), được xem là chân lý của thời đại rằng: “toàn bộ mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.

Tạo hóa cho họ những quyền không ai rất có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Sau đó bằng sự sáng tạo và sự khôn khéo của tôi Bác đã chú giải mở rộng ý, và đồng thời cũng nhấn mạnh, triệu tập vào câu: “toàn bộ những dân tộc trên toàn cầu đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng đều có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Để khẳng định sự bao quát của chân lý đã được nêu ra trong bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, rằng không chỉ là riêng mình dân tộc nào, mà toàn bộ những dân tộc trên toàn cầu đều xứng đáng được đối xử công minh, được hưởng những quyền con người, như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Và để tiếp tục bổ sung và khẳng định sự đúng đắn của luận điểm trên Bác đã mượn và trích dẫn một đoạn trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của những mạng Pháp(1791) Trong số đó người quan tâm và nhấn mạnh ở hai từ “bình đẳng” và “tự do”, với mục đích minh chứng rằng không chỉ là riêng mình Bác hay nước Mỹ mà ở Pháp người ta cũng đồng tình với quan điểm này. Như vậy rất có thể nhận thấy rằng bằng việc sử dụng tuyên ngôn của hai đế quốc hùng mạnh hàng đầu lúc bấy giờ, Trong số đó có một nước là kẻ thù xâm lược việt nam, đã giáng một đòn mạnh mẽ vào thủ đoạn cũng như những luận điệu xảo trá của kẻ thù nhằm nhòm ngó, quay quay về việt nam lần nữa.

không chỉ là vậy với vị thế của hai đế quốc như Mỹ và Pháp, giá trị của Bản tuyên ngôn lại càng được củng cố, có độ tin cậy và sức thuyết phục cao hơn cả. sau cùng Hồ Chủ tịch chốt hạ một câu ngắn gọn và sắc bén để kết lại phần cơ sở pháp lý rằng: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Thể hiện sự mạnh mẽ, quyết liệt trong nghệ thuật chiến luận của Hồ Chủ tịch và khát khao đem về cho dân tộc Việt Nam, tổ quốc Việt Nam sự tự do bình đẳng, công minh và bác ái giống như những nước trên toàn cầu đã từng làm.

Những lý lẽ và dẫn chứng chọn lọc, không chỉ là tác động sâu sắc đến toàn thể dân tộc Việt Nam mà còn đánh động vào nhân dân Pháp, quân đội Pháp, ngấm ngầm phê phán, thức tỉnh lương tri của họ rằng quân đội của họ, chính quyền của họ đang đi ngược lại với những gì cha ông mình đã lập ra, khiến phái Pháp phải tự soi xét lại về những hành động bịp bợm, xảo trá đang tự tay bôi nhọ chính cha anh của tôi. Đồng thời khơi gợi sự đồng tình ủng hộ của nhân dân Pháp và những dân tộc yêu chuộng hòa bình trên toàn cầu.

Sau khi nêu ra và khẳng định tính chân lý của cơ sở pháp lý, Bác tiếp tục đưa ra những luận cứ về cơ sở thực tiễn để phá tan thủ đoạn cùng những luận điệu xảo trá mà thực dân Pháp đưa ra nhằm biến việt nam thành thuộc địa như sự “khai sáng văn minh” hay “nền bảo hộ”,… trước tiên Hồ Chủ tịch nêu ra chứng cứ cực kì xác đáng và rõ ràng rằng: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp tổ quốc ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Sau đó Người triển khai những luận điểm mạnh mẽ để bác bỏ, phá vỡ những luận điệu xảo trá được cho là “khai hóa” dân tộc ta của thực dân Pháp lần lượt trên những lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa.

Thứ nhất về chính trị và văn hóa, chúng đã “khai hóa” chúng ta bằng phương pháp “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”, lại liên tục lập ra nhà tù nhiều hơn thế trường học, giết hại, tàn sát đồng bào ta không thương tiếc, đem thứ thuốc phiện ghê gớm, cùng thứ rượu chè bê tha để tiêu diệt và làm suy thoái giống nòi của ta một cách từ từ. Quả thật không biết thực dân Pháp đã “khai hóa” gì với những trò dơ dáy, ghê tẩm ấy. Về kinh tế, chúng lại “khai hóa” bằng phương pháp “bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, việt nam xơ xác, tiêu điều”, rồi đề ra đủ những loại sưu Thuế VAT vô lý, chèn ép nhân dân ta đến cùng đường mạt vận.

Như vậy, với những dẫn chứng rõ ràng và sắc bén ấy, Bác đã giáng một đòn chí mạng vào thực dân Pháp, đặc biệt là những kẻ nắm quyền luôn ấp ủ cái luận điệu “khai hóa” cốt để lừa bịp nhân dân ta và nhân toàn cầu, để thuận bề xâm chiếm và đồng hóa dân tộc ta. Tuy nhiên, chúng đã quá coi thường dân tộc Việt Nam, quá trắng trợn khi thực thi việc “khai hóa” điên rồ của chúng, dẫn đến bị bóc trần mà không thể chối cãi.

Bên cạnh luận điệu “khai hóa” nực cười, thực dân Pháp còn liên tục ra giảng luận điệu “bảo hộ” một cách đường đường chính chính, thế nhưng cái trò xảo trá ấy cũng không thể nào che đậy được thủ đoạn dơ dáy của chúng. Hồ Chủ tịch đã nhanh gọn bác bỏ chúng bằng phương pháp nêu ra dẫn chứng cực kì thuyết phục và rõ ràng rằng, dù mang tiếng bảo hộ, nhưng thực tiễn Pháp đã hai lần dâng việt nam cho phát xít Nhật trong vòng 5 năm trời. Dẫn đến hậu quả là hơn 2 triệu đồng bào ta phải chịu chết đói, không chỉ là vậy chúng mang tiếng bảo hộ thế nhưng lại khước từ liên minh với ta chống Nhật, thậm chí quay ra khủng bố, khiến quân dân ta tổn thất nặng nề, cùng với đó chúng còn tàn sát cả những người tù chính trị. Với bấy nhiêu bằng cớ về hành động vô liêm sỉ của thực dân Pháp, quả thực nói tới luận điệu “bảo hộ” lại chỉ khiến người ta thấy nực cười, chẳng lẽ bọn chúng không thấy xấu hổ và nhục nhã chăng?

rất có thể nói rằng bằng ngòi bút luận chiến sắc bén, trí tuệ và sự khéo léo Bác đã vạch trần được thủ đoạn và sự xảo trá của thực dân Pháp với hai luận điệu “khai hóa” và “bảo hộ” khiến chúng không thể nào chối cãi, giáng một đòn đau vào bộ mặt giả nhân giả nghĩa của kẻ thù. sau cùng để kết thúc phần cơ sở thực tiễn Bác đã nhấn mạnh hai thực sự rằng: “thực sự là từ mùa thu năm 1940, việt nam đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng liên minh thì nhân dân toàn quốc ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” và “thực sự là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Để xác minh việc Việt Nam hoàn toàn không hề nhận sự “khai hóa” hay “bảo hộ” gì từ Pháp và hoàn toàn tách biệt với Pháp, từ đó tiến tới việc Tuyên ngôn độc lập.

Sau khi đã làm rõ cơ sở pháp lý và nêu ra được cơ sở thực tiễn với những lý lẽ và luận điểm chặt chẽ, ngắn gọn xúc tích và đi vào lòng người, Hồ Chủ tịch đã sử dụng những lời lẽ hùng hồn, đanh thép, kết cấu trùng lặp, liên tục nhấn mạnh và xoáy sâu vào hai vấn đề đó là “độc lập” và “tự do” để tuyên bố nền độc lập của dân tộc: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thực sự đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem toàn bộ tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!”. Đó là những lời lẽ xuất phát từ trái tim của một con người có lòng yêu nước, yêu dân, yêu chuộng hòa bình sâu sắc, là những khát khao cháy bỏng không chỉ là của riêng mình Bác mà còn đó là thay lời muốn nói của toàn thể dân tộc Việt Nam. Muốn tuyên bố với cả toàn cầu rằng nước Việt Nam là một vương quốc độc lập, có chủ quyền lãnh thổ, nhân dân Việt Nam quyết hy sinh toàn bộ để bảo vệ nền độc lập thiêng liêng, cao quý ấy.

Như vậy, Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh không chỉ là là áng văn chính luận xuất sắc với luận điểm sắc sảo, luận cứ thuyết phục mà còn là văn kiện lịch sử quan trọng, là bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Khẳng định nền độc lập của dân tộc sau hơn 80 năm giời nô lệ, mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do và tự chủ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” số 6

“Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện lịch sử có giá trị to lớn do chủ tịch Hồ Chí Minh viết. Tác phẩm là văn kiện tuyên bố chấm hết chính sách thực dân phong kiến VNĐ thời mở ra kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của độc lập tự do.“Tuyên ngôn độc lập” phát hành trong hoàn cảnh lịch sử cực kì đặc biệt. Tuyên ngôn được phát hành khi chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới xây dựng đã phải đối mặt với nhiều thử thách., quyền lực phản động cấu kết nhằm tước đoạt thành quả mà chúng ta đã đạt được. Mặc dù vậy, tuyên ngôn vẫn được phát hành và có ý nghĩa sâu sắc lịch sử to lớn đối với dân tộc ta.

Trong bản Tuyên ngôn đọc lập, ở phần cơ sở pháp lý Bác Hồ trích nguyên văn một đoạn tuyên ngôn của nước Mỹ. Bác dùng nó như một nền tảng pháp lý, một nguyên lý cơ bản quan trọng nhất làm nền móng cho toàn bộ tư tưởng tác phẩm đê nâng cao phát triển thành luận điểm: từ quyền bình đẳng của con người Người phát triển thành quyền bình đẳng của những dân tộc trên toàn cầu. Đó là sự sáng tạo đầy bản lĩnh, trí tuệ và khôn khéo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sản phẩm của tư duy lí luận sắc bén, sáng tạo và là một đóng góp một góp sức lớn của Người.

Nó không chỉ là có ý nghĩa sâu sắc thiết thực với cách mạng Việt Nam mà còn có ý nghĩa sâu sắc với trào lưu giải phóng dân tộc trên toàn cầu. Bên cạnh đó, Người còn trích dẫn tuyên ngôn của Pháp, quy tụ đầy đủ tinh thần sơ lược đầy ý nghĩa sâu sắc của tuyên ngôn Pháp, tôn vinh quyền tự do bình đẳng của con người – quyền cơ bản chính đáng, lẽ phải không ai chối cãi được và được thừa nhận như một chân lý.

Sử dụng hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của nhân loại và của hai cường quốc lớn trên toàn cầu đang có thủ đoạn thôn tính việt nam một mặt Bác muốn tăng sức thuyết phục của bản tuyên ngôn độc lập nước nhà. Mặt khác, thể hiện sự khéo léo, trí tuệ của người viết. Bác vừa tôn vinh truyền thống bình đẳng, tự do, nhân đạo, tinh thần tự do tiến bộ của nhân dân hai nước Mỹ và Pháp lại vừa có tác dụng ngăn chặn thủ đoạn xâm lược của chúng. Đó là nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông”. Người cũng sử dụng những lý luận sắc bén nhất, lời văn ngắn gọn, súc tích giọng văn sang sảng mà hùng hồn. Đó là tiếng nói khẳng định trước tiên cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc.

Ở phần bản cáo trạng Bác đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể trên mọi phương diện. Từ chính trị, kinh tế cho tới quân sự, văn hóa đề được Bác liệt kê đầy đủ những thủ đoạn áp bức bóc lột mà nhân dân ta phải hứng chịu. Đây được coi như một bản tố cáo tội ác chi tiết của thực dân Pháp. Sự tàn nhẫn, độc ác và nhẫn tâm của thực dân Pháp được Bác nhắc lại đầy đủ và rõ ràng đã tái hiện lại hình ảnh tổ quốc Việt Nam của chúng ta trong quá khứ. Tiếp đến bác nói tới quy trình giành độc lập tự do của nhân dân ta. Bác kể lại những việc làm vừa anh hùng vừa nhân đạo của nhân dân ta. Đó là những trận chiến tranh chính nghĩa anh dũng kiên định của cả dân tộc. Bác nhân danh dân tộc khẳng định quyết tâm đạp tan thủ đoạn xâm lược của thực dân Pháp. Sự quyết tâm được thể hiện như một lời thế khắc cốt ghi tâm, lời thề của non sông cất lên dõng dạc, dứt khoát.

Phần sau cùng của bản tuyên ngôn cũng là phần được coi là đúc kết lại toàn bộ: tuyên bố độc lập khẳng định quyết tâm giữ vững độc lập. Một lần nữa Bác khẳng định độc lập tự do là quyền tất yếu của dân tộc Việt Nam, đó như là một thực sự lịch sử mà không ai rất có thể chối cãi được. Những câu văn ngắn gọn, súc tích nhưng thể hiện được niềm tự hào tự tôn dân tộc của người viết. Và bản Tuyên ngôn độc lập cũng mang một ý nghĩa sâu sắc cực kì trọng đại. Hồ Chí Minh đồng thời giải quyết được hai việc đó là độc lập cho dân tộc và dân chủ cho nhân dân.

rất có thể nói rằng, “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận vừa ngắn gọn, lập luận sắc bén, dẫn chứng xác thực kết tinh tài năng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để rồi, Tuyên ngôn độc lập được coi là “áng thiên cổ hùng văn”.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” số 7

Ngày 19-8-1945, lực lượng cách mạng và nhân dân Hà Thành đã nổi dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật. Tổng khởi nghĩa đã lan rộng hầu khắp những tỉnh thành trên toàn quốc. Ngày 26-8 -1945, từ chiến khu Việt Bắc, lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng những vị lãnh đạo của Đảng đã về tới Hà Thành. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Bác đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.

Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên lễ đài của quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện cho Chính phủ lâm thời đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một văn kiện lịch sử vô giá, đồng thời là bài văn chính luận xuất sắc, mẫu mực trong nền văn học nước nhà. Tuyên ngôn Độc lập là bản tổng kết khá đầy đủ về một giai đoạn lịch sử đau thương nhưng cực kì anh dũng của dân tộc ta chống lại ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật, giành chủ quyền tự do, độc lập.

Bản Tuyên ngôn Độc lập khẳng định: chủ quyền độc lập, tự do của Việt Nam là một chân lí sáng ngời không ai bác bỏ được và tuyên bố xây dựng Chính phủ cách mạng lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời tố cáo thủ đoạn đen tối của thực dân Pháp muốn tái chiếm việt nam và bày tỏ quyết tâm sắt đá bảo vệ chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

Bố cục bài văn được chia làm ba đoạn: Đoạn 1: Từ đầu đến… không ai chối cãi được: Nêu nguyên lý chung của Tuyên ngôn Độc lập. Đoạn 2: Từ Thế mà… tới từ tay Pháp: Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định thực tiễn là nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đoạn 3: sót lại: Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí và quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Kết cấu của bản Tuyên ngôn hết sức chặt chẽ, hợp lí; cả ba phần đều triệu tập hướng về chủ đề của bài văn. Tính logic của lập luận được thể hiện như sau: Từ nguyên lí chung làm cơ sở lí luận, dẫn đến những thực tiễn cần minh chứng để sau cùng đi đến phần Tuyên ngôn, tức luận điểm chính của bài viết.

Mở đầu bản Tuyên ngôn, tác giả nêu lên nguyên lí chung mang tính khái quát: toàn bộ mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đây cũng là luận điểm xuất phát, coi chủ quyền độc lập, tự do, bình đẳng là những thành tựu lớn của tư tưởng nhân loại, đồng thời là lí tưởng theo đuổi hết sức cao đẹp của nhiều dân tộc.Phần thứ hai của bản Tuyên ngôn, tác giả minh chứng rằng trong hơn 80 năm đô hộ việt nam, thực dân Pháp đã hoàn toàn làm trái với nguyên lí trên. Qua đó, tác giả đanh thép tố cáo tội ác trên nhiều lĩnh vực mà thực dân Pháp đã gây ra đối với nhân dân Việt Nam ; đồng thời khẳng định nhân dân Việt Nam đã đối xử nhân đạo với thực dân Pháp, đã đứng lên giành chính quyền từ tay phát xít Nhật để lập nên nước Việt Nam Dàn chủ Cộng hòa.

Phần Tóm lại nêu ý nghĩa sâu sắc của bận Tuyên ngôn Độc lập, kêu gọi nhân dân toàn cầu ủng hộ chủ quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam; tuyên bố với toàn cầu về chủ quyền độc lập, tự do và bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam.Muốn hiểu được nội dung của bản Tuyên ngôn Độc lập, trước hết chúng ta phải tìm hiểu kĩ lãnh tụ Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập trong hoàn cảnh nào? Viết cho ai và nhằm mục đích gì?

Sau khi chiến tranh toàn cầu thứ II kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng phe liên minh vô điều kiện. Lúc đó, ở miền Nam, quân đội Pháp nấp sau lưng quân đội Anh vào giải giáp phát xít Nhật. Phía Bắc, quân đội Tưởng chờ ở biên giới sẵn sàng tràn vào việt nam. Trước khi viết bản Tuyên ngôn, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhận được định: xích míc giữa Anh – Mĩ – Pháp và Liên Xô rất có thể làm Anh – Mĩ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở tại Đông Dương. Để việc tái chiếm Đông Dương không bị dư luận quốc tế phản đối, Pháp đưa ra một luận điệu xảo trá: Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, Pháp đã có công “khai hóa” Đông Dương. Phát xít Nhật chiếm Đông Dương nhưng nay đã đầu hàng phe liên minh, do đó việc quay về Đông Dương của Pháp là đương nhiên và hợp lí.

Vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố trước quốc dân đồng bào và nhân dân toàn cầu mà còn nhằm vào bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp để ngăn chặn và đập tan thủ đoạn xâm lược của chúng, nhất là luận điệu xảo trá của thực dân Pháp. Nội dung của bản Tuyên ngôn Độc lập còn là một cuộc tranh luận quyết liệt giữa dân tộc Việt Nam với những đối tượng ấy. Mở đầu bản Tuyên ngôn, Hồ Chủ tịch đã trích dẫn những câu văn chứa đựng nội dung thiết yếu trong hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng toàn cầu là Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ: toàn bộ mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai rất có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Thêm vào đó là lời trích dẫn từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những câu nói của những bản Tuyên ngôn bất hủ không chỉ là của riêng nước Pháp, nước Mĩ mà còn là của cả nhân loại. Lời văn trích từ hai bản Tuyên ngôn này là những danh ngôn, tức là những chân lí lớn, không ai rất có thể bác bỏ được.Việc viện dẫn những danh ngôn nói trên để mở đầu cho bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là một lập luận vừa kiên quyết vừa khôn khéo; rất có thể gọi đó là thủ pháp lấy gậy ông đập lưng ông rất đích đáng của tác giả.

Cái tài tình của Hồ Chủ tịch là dùng ngay lí lẽ của đối phương để ràng buộc đối phương, dồn Pháp và Mĩ vào cái thế không thể không công nhận chủ quyền độc lập, tự do của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Trích dẫn những lời văn trong hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng, về phương diện nào đó là cách trực tiếp tranh luận với Mĩ và Pháp về chủ quyền độc lập tự do của mỗi vương quốc, dân tộc, về quyền sống của mỗi con người. Bên cạnh đó, Hồ Chủ tịch muốn ngăn chặn sự bác bỏ của đối phương. Nếu cố tình bác bỏ thì có tức là họ đã phủ nhận lí lẽ của chính tổ tiên họ. Suy ngẫm về tình thế lúc bấy giờ, chúng ta mới hiểu sâu thêm về chủ ý thâm thúy của Hồ Chủ tịch.

Trong cuộc tranh luận giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, thực dân xâm lược thì vấn đề đó là chủ quyền tự do độc lập. Vì thế, từ vấn đề nhân quyền, vấn đề quyền cá nhân đề ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ, nước Pháp, tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập đã suy rộng ra về quyền tự do, bình đẳng của những dân tộc khác trên toàn cầu. Nhưng không dừng ở đó, Bác đã dùng lí lẽ sắc bén, khoa học để nâng cao, mở rộng vấn đề lên thành chủ quyền độc lập, tự do của những dân tộc: toàn bộ những dân tộc trên toàn cầu đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng đều có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đây là đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư tưởng đối với trào lưu giải phóng dân tộc trên toàn cầu sẽ phát triển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỉ XX.

Mặt khác, việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn kia còn có tức là Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ba cuộc cách mạng của nhân loại ngang bằng nhau, Trong số đó cách mạng Việt Nam đã cùng một lúc tiến hành nhiệm vụ của cả hai cuộc cách mạng Pháp và Mĩ. Qua đó, Bác muốn khẳng định: “Mục đích cao quý của cách mạng Việt Nam, của cách mạng Mĩ và Pháp là vì hạnh phúc của con người.

Chúng ta chiến đấu vì hạnh phúc của con người”.Bản Tuyên ngôn Độc lập nêu rõ: Dân ta đã đánh đổ những xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Bản Tuyên ngôn cũng viết: Dân ta lại đánh đổ chính sách quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chính sách dân chủ cộng hòa.Hồ Chủ tịch đã đặt bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam ngang hàng với tầm cỡ hai bản Tuyên ngôn của hai cường quốc trên toàn cầu, có tức là khẳng định vị trí chính trị của tổ quốc ta đối với những nước trên toàn cầu và khẳng định chủ quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Đồng thời nhấn mạnh rằng: Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Nấp sau lưng phe liên minh, được Mĩ ủng hộ, thực dân Pháp lăm le tái chiếm Việt Nam, hòng cướp việt nam một lần nữa. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã vạch rõ ý đồ đen tối đó và tố cáo trước dư luận tội ác tày trời của chúng trong hơn 80 năm nô dịch việt nam, biến việt nam thành thuộc địa béo bở của chúng. Chỉ hai chữ Thế mà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phơi trần thực chất xấu xa, vô nhân đạo của quân xâm lược Pháp, đi ngược lại với những tuyên bố bất hủ về quyền tự do, bình đẳng.

Khi xâm chiếm việt nam, thực dân Pháp luôn lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái và chiêu trò “khai hóa”, “bảo hộ” Việt Nam. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã lật tẩy thực chất của chúng bằng những lí lẽ chặt chẽ và đanh thép. Hồ Chủ tịch nghiêm khắc kết án chúng trên từng lĩnh vực. Chúng kể công “khai hóa”, bản Tuyên ngôn kể tội áp bức bóc lột tàn bạo và tội diệt chủng:Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chính sách không giống nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn thế trường học. Chúng thẳng tay chém giết những tình nhân nước thương nòi của ta. Chúng tắm những cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.Chúng dùng thuốc phiện, rượu cổn để làm cho nòi giống ta suy nhược.Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, việt nam xơ xác, tiêu điều.Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.Chúng giữ độc quyền về in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.Chúng đề ra hàng trăm thứ Thuế VAT vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở thành bần hàn.Chúng không cho những nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách cực kì tàn nhẫn.

Đặc biệt, Hồ Chủ tịch nhấn mạnh sự phản bội của thực dân Pháp. Một mặt, chúng luôn kể công “khai hóa”, “bảo vệ” việt nam, nhưng mặt khác, chúng hèn nhát quỳ gối đầu hàng dâng việt nam hai lần cho phát xít Nhật (từ 1940 đến 1945), khiến dân ta điêu đứng vì một cổ hai tròng và dẫn tới hậu quả thảm khốc là năm Ất Dậu 1945, chỉ tính từ miền Bắc vào tới Quảng Trị đã có hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.Lời văn trong đoạn này sục sôi căm giận trước tội ác trời không dung, đất không tha của thực dân Pháp và bộc lộ thái độ phẫn nộ, mỉa mai, châm biếm sắc sảo của Hồ Chủ tịch trước thực chất đê hèn của chúng:

Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh liên minh, thi bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa việt nam rước Nhật. Từ đó dàn ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu xuân năm mới nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán việt nam hai lần cho Nhật.Thực dân Pháp nhân danh phe liên minh đã thắng lợi phát xít Nhật để giành lại Đông Dương; bản Tuyên ngôn tố cáo Pháp phản bội liên minh, đầu hầng Nhật, đàn áp cách mạng Việt Nam.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt phần đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.Dù vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.Như vậy rõ ràng là vì hèn nhát, Pháp đã tự tước bỏ vai trò “bảo hộ” của chúng ở Đông Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Từ đó, Hồ Chủ tịch có đủ cơ sở thực tiễn để đưa ra nhận định sắc bén về một thực sự lịch sử:

thực sự là từ mùa thu năm 1940, việt nam đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa…thực sự là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.thực sự không thể chối cãi ấy được khẳng định mạnh mẽ trong Tuyên ngôn độc lập và nó có ý nghĩa sâu sắc rất quan trọng: Việt Nam không bị ràng buộc bởi bất kỳ nguyên tắc pháp lí quốc tế nào với thực dân Pháp; từ đó bác bỏ quyền quay về Việt Nam của Pháp.Chì trong một câu văn ngắn gọn, từ ngữ tuyệt đối chính xác, Bác đã khái quát một cách chính xác tình thế lịch sử việt nam lúc bấy giờ: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Đó là bước sụp đổ tất yếu của chính sách thực dân, phát xít, phong kiến trước khí thế cách mạng giải phóng của nhân dân ta, trước xu thế chung của cách mạng toàn cầu.

Tự hào, sảng khoái biết bao khi Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Dân ta đã đánh đổ những xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chính sách quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chính sách Dân chủ Cộng hòa. Và Bác đại diện cho toàn dân tộc Việt Nam hùng hồn tuyên bố từ nay thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa khỏi hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa khỏi toàn bộ mọi đặc quyền của Pháp trên tổ quốc Việt Nam. Điệp từ xóa khỏi được lặp lại nhiều lần càng làm tăng tính phủ định của lập luận: Pháp không thể vai trò gì ở tổ quốc này. Cho nên, nếu thực dân Pháp xâm chiếm việt nam một lần nữa thì chúng phải nhận những đòn trừng trị đích đáng bởi: Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại thủ đoạn của bọn thực dân Pháp.Bản Tuyên ngôn vạch rõ thực chất xấu xa, thâm độc của thực dân Pháp và bày tỏ quyết tâm sắt đá bảo vệ chủ quyền dân tộc, đó cũng là một cách tiến công đối phương rất có kết quả trước công luận, đồng thời tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên toàn cầu đối với dân tộc Việt Nam.

Tiếp theo, bản Tuyên ngôn buộc những nước liên minh phải công nhận nền độc lập của tổ quốc Việt Nam. Lí lẽ ở đoạn văn này vừa đanh thép hùng hồn, vừa thấu lí đạt tình: Chúng tôi tin rằng những nước liên minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở những Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe liên minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập!Đó là chân lí, có tức là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chủ tịch trịnh trọng tuyên bố với toàn cầu về sự phát hành của nước Việt Nam mới và khẳng định một lần nữa quyết tâm bảo vệ bằng được nền độc lập tự do: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thực sự đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem toàn bộ tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.Tuyên ngôn Độc lấp có tầm cỡ lớn lao, tiếp nối tinh thần của áng thiên cổ hùng văn là Đại cáo bình Ngô của nhà chính trị, quân sự, ngoại giao lỗi lạc Nguyễn Trãi thế kỉ XV. tổ quốc ta, dân tộc ta mãi mãi tự hào về những người anh hùng dân tộc như Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh cùng những bản Tuyên ngôn nổi tiếng muôn đời như Đại cáo bình Ngô và Tuyên ngôn Độc lập.

Có ý kiến cho rằng bản Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng là áng thiên cổ hùng văn, giống như bài Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi ngày xưa. Hai tác phẩm thống nhất ở chỗ đều là những bản tổng kết thắng lợi, là lời tuyên bố khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc ta và đều tràn đầy khí thế hào hùng từ nội dung tư tưởng cho tới cách hành văn. Tuy cùng có yếu tố chính luận nhưng Đại cáo bình Ngô chủ yếu dùng hình tượng nghệ thuật để thuyết phục, còn Tuyên ngôn Độc lập dùng lập luận chặt chẽ, đanh thép và những luận cứ hùng hồn. Tính logic khoa học phối kết hợp với sự hiểu biết uyên bác, khả năng lập luận sắc sảo hòa quyện với cảm hứng sôi nổi, nhiệt thành của lòng yêu nước, tự hào dân tộc của Hồ Chủ tịch đã tạo thành một tác phẩm chính luận mẫu mực, bất hủ.

Cách đây hơn năm trăm năm, sau khỉ quét sạch quân Minh xâm lược ra khỏi bờ cõi, Lê Lợi đã sang sảng đọc bài Đại cáo bình Ngô trước muôn dân, tự hào tuyên bố: Một cỗ nhung y thắng lợi, nên công oanh liệt từ đây, Bốn phương biển cả thanh thản, ban chiếu duy tân khắp chốn. Giọng văn lúc thâm trầm, lúc đanh thép, lúc phấn khích bừng bừng như triều dâng bão nổi, thật xứng với lời khen là một áng thiên cổ hùng văn có giá trị muôn đời. Năm trăm năm sau, bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một mốc son lưu lại sự chấm hết của chính sách quân chủ phong kiến thống trị tổ quốc ta hàng trăm ngàn năm; chấm hết chính sách thuộc địa của thực dân Pháp nối dài gần một trăm năm; mở ra một kỉ nguyên mới của chính sách Dân chủ Cộng hòa ở Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” số 8

Hồ Chí Minh là một nhà chính trị cách mạng đồng thời cũng là một nhà văn nhà thơ của dân tộc Việt Nam. Mỗi tác phẩm của người đều thể hiện một thái độ sống quan điểm chính trị rõ ràng, thể hiện tinh thần yêu nước thương dân sâu sắc. Tuyên ngôn độc lập được chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1945 sau khi cách mạng tháng 8 của chúng ta thành công giành quyền làm chủ về tay nhân dân lao động, đánh đuổi phát xít Nhật ra khỏi bờ cõi nước nhà.Tuyên ngôn độc lập là kết quả của nhiều thành tựu to lớn, khi ông cha ta đã hy sinh rất nhiều tính mạng, xương máu để giành quyền làm chủ tổ quốc. Trong Bản Tuyên ngôn độc lập mở đầu bài viết tác giả đã đi thẳng vào vấn đề nêu ra những căn cứ luận điểm pháp lý những lập luận chặt chẽ không ai rất có thể chối cãi được.

Trong bản Tuyên ngôn độc lập chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy dẫn chứng từ hai câu nói tuyên ngôn của Pháp và Mỹ. Tác giả muốn nhắc khéo hai đế quốc này rằng tại sao những gì họ ghi trong hiến pháp, tuyên ngôn của nước mình lại không tiến hành ở nước khác. Họ lại làm ngược lại với những gì họ viết đem sự áp bức bóc lột sang nước khác đàn áp.Hồ Chí Minh đã dùng lý lẽ của kẻ thù. Hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ đều nhấn mạnh quyền con người. Bác đã nói thêm về quyền dân tộc, mở đầu cho một trào lưu đấu tranh giải phóng dân tộc. Người đã khôn khéo vạch trần tội ác của giặc, khi chúng sang việt nam đàn áp dân ta, bóc lột của cải vật chất của việt nam.

Những hành động mà chúng đã làm với việt nam không tồn tại cái gì gọi là văn minh, dân chủ ở đây. Nên tác giả đã kêu gọi nhân dân vùng dậy đấu tranh. Chúng thi hành chính sách sưu cao, Thuế VAT nặng, bóc lột dân ta tới tận xương tủy. Chúng thẳng tay chém giết dân ta, giết hại đồng bào yêu nước của ta. Tác giả đã làm nổi trội lên tội ác của thực dân Pháp, làm tăng thêm tính dân tộc trong những người dân, khích động lòng yêu nước.

Chính thực dân Pháp là nguyên nhân dẫn tới nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm chết hai triệu đồng bào ta. Chúng con dâng việt nam cho Nhật, khiến cho dân ta chịu cảnh một cổ hai tròng đã nghèo nàn lỗi thời nay lại còn nghèo nàn lỗi thời hơn.Thực dân Pháp còn thẳng tay đàn áp những trào lưu yêu nước của dân ta, giết hại đồng bào ta, đặc biệt là những tù chính trị tại Yên Bái, Cao Bằng…

Với những lời lẽ hùng hồn đanh thép tác giả đã tố cáo, phơi bày những tội ác dã man của thực dân Pháp đã làm với nhân dân ta. Lột trần bộ mặt khai hóa văn minh của chúng thực chất chỉ là bóc lột mà thôi. Hồ Chí Minh đã khơi dậy lòng căm thù giặc, yêu nước sâu sắc của những người dân Việt Nam.trải qua Tuyên ngôn độc lập tác giả cũng biểu dương trào lưu chống thực dân và phong kiến giành độc lập của nhân dân trong cách mạng tháng 8/1945 đã làm cho phát xít Nhật phải đầu hàng.

Qua bản Tuyên ngôn độc lập chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu ra nhiệm vụ, phương hướng của nhân dân ta trong giai đoạn tiếp theo, khi mà thực dân Pháp sẽ vẫn chưa từ bỏ thủ đoạn đô hộ, xâm lược việt nam. Nhân dân ta phải đoàn kết để tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi kiếp nô lệ này.Trên cơ sở những gì đã có, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đọc bản khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tuyên bố Việt Nam là nước độc lập thoát ly hoàn toàn với thực dân Pháp. Thực dân Pháp không tồn tại quyền hạn gì với tổ quốc ta.Kết thúc bản Tuyên ngôn độc lập người nêu lời thề quyết đem toàn bộ tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do Độc lập ấy”.

Với bản Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam đã bước lên vũ đài chính trị quốc tế là nước độc lập tự do. Bản Tuyên ngôn độc lập này được nhân dân tiến bộ trên toàn cầu công nhận và coi trọng.Với những từ ngữ chặt chẽ, lý luận đanh thép chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn độc lập với những ngôn ngữ sâu sắc nhất, thể hiện rõ ràng thái độ, lập trường quan điểm của dân tộc Việt Nam trong chặng đường tiếp đây, thể hiện tầm nhìn chiến lược vĩ đại của Hồ Chí Minh.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” số 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là là một nhà cách mạng vĩ đại mà còn là một cây bút nghệ thuật đầy tài hoa của dân tộc. Thơ văn Bác vừa mang sắc thái cổ xưa vừa mang sắc thái hiện đại lại đầy sáng tạo lại mang những giá trị tư tưởng cao. Nếu trong thơ trữ tình, ta bắt gặp những lời thơ tràn ngập niềm lạc quan và tinh thần đầy tự do, phóng khoáng thì trong văn học chính luận là những áng văn đầy khúc chiết, chặt chẽ, có sức lay động mạnh mẽ tới tâm hồn người đọc, người nghe. Tuyên ngôn độc lập mà một tác phẩm chính luận đầy mẫu mực của Bác, nó chứa đựng những tình cảm thiết tha, những tư tưởng mang tầm thời đại và những kết tinh những vẻ đẹp tinh túy của dân tộc Việt Nam.

Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, tổ quốc bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của độc lập, tự do nhưng vẫn phải đứng trước những thử thách của cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” khi bọn đế quốc và thực lợi dụng danh nghĩa quân liên minh thủ đoạn cướp việt nam một lần nữa. Chính trong thời điểm ấy, ngày 2-9-1945 trên Quảng Trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh độc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Đây là bản tuyên ngôn viết cho nhân dân Việt Nam, nhân dân toàn cầu và công luận Quốc tế.

“Hỡi đồng bào toàn quốc, toàn bộ mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai rất có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. “…Người ta sinh ra ra đều tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn bình đẳng về quyền lợi”. Hai bản tuyên ngôn độc lập của Mĩ năm 1976 và bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của pháp năm 1971 đã được Bác trích dẫn một cách hợp lí. Đây là hai văn kiện quan trọng của toàn cầu, khi mà thực tiễn lịch sử đã minh chứng quyền con người là cực kì quan trọng. Đó là những chân lí mang giá trị cực kì to lớn.

Bác đã dùng nghệ thuật tâm lí “gậy ông đập lưng ông”. thủ đoạn của Mĩ và Pháp bị ngăn chặn bởi chính những tuyên ngôn, lời răn dạy của tổ tiên chúng. Nếu chúng xâm phạm quyền tự do của dân tộc ta thì đó là đi ngược lại với đạo lí của chúng. ” Đó là một lời lẽ không ai rất có thể chối cãi được”, Bác đã khẳng định đinh ninh và chắc chắn , kiên quyết về lập trường chính nghĩa của dân tộc ta. Đồng thời khi trích dẫn hai bản tuyên ngôn này, tác giả đã cho thấy sự khéo léo khi tỏ ra rất trân trọng những tuyên ngôn bất hủ đồng thời dùng lí lẽ của chúng để khóa miệng thủ đoạn xâm lược của Đế quốc. Đặt ba bản tuyên ngôn cũng như ba cuộc cách mạng ngang hang nhau, mang tầm vóc lớn lao của toàn cầu. Như một sức mạnh lớn lao cổ vũ trận chiến của những nước thuộc địa chống lại thực dân trên toàn cầu bằng cảm quan đầy tỉnh táo và sáng suốt, tác giả đã đưa ra những lí lẽ sắc bén, tinh nhạy và chứa đựng tình cảm lớn lao đối vớ nhân dân.

Sau cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn, Bác đã đưa ra cơ sở thực tiễn , những thực sự lịch sử những dẫn chứng sống qua mấy mươi năm đấu tranh của nhân dân toàn quốc. Đó là những lí lẽ thuyết phục hơn cả vì nó được thực tiễn minh chứng, được nhân dân chứng kến và tham gia, bởi vậy lay động hàng triệu trái tim con người trên toàn cầu. Lời lẽ tố cáo đầy phẫn nộ và xót xa: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp tổ quốc ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.”

Đời sống nhân dân khổ cực, tổ quốc lầm than, bao nhiêu ông xã mất vợ, mẹ mất con, con mất cha,…..đều có dấu rang của bọn đế quốc thực dân. “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chính sách không giống nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn thế trường học. Chúng thẳng tay chém giết những tình nhân nước thương nòi của ta. Chúng tắm những cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, việt nam xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đề ra hàng trăm thứ Thuế VAT vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở thành bần hàn. Chúng không cho những nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách cực kì tàn nhẫn.” Bác đã bóc trần thực chất nịnh bợ, tỏ ra lương thiện, nhân đạo của thực dân mà thực chất là lăm le đô hộ việt nam, đồng hóa dân tộc ta. Từng câu chữ thốt ra như thấm vào tâm can người đọc, từng con chữ thấm đẫm máu và nước mắt của nhân dân. Bao nhiêu phẫn nộ, bao nhiêu xót xa, thương tiếc như gói gọn vào những luận điệu, những bản án được nêu ra.

Bằng lời lẽ ngắn gọn, những câu văn như sóng trào cảm xúc, chứa chất nỗi căm hờn vạn lần đau đớn và những hình ảnh giàu sức gợi, Bác đã dựng lên trước mắt thế gới một giai đoạn lịch sử đầy đau thương của con dân nước Việt. Tố cáo tội ác ” trời không dung, đất không tha” của Pháp, những hành động của chúng là xảo trá, là bịp bợm, là tàn nhẫn’. Nhân dân ta đã đứng lên đấu tranh bất khuất và kiên định trái ngược với cùng 1 Pháp đề hèn, đốn mạt. “thực sự là từ mùa thu năm 1940, việt nam đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng liên minh thì nhân dân toàn quốc ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. thực sự là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.”

Cách mạng tháng Tám thành công đã giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ lớn lao là độc lập cho dân tộc và dân chủ cho nhân dân. Từ sự đứng lên đấu tranh của nhân dân, Bác tiến tới khẳng định những thành quả đạt được. Đó là lời tuyên bố thoát li, không liên quan đến Pháp, xóa khỏi những hiệp ước mà đã kí với Pháp. Đồng thời khẳng định rõ quyền tự do và dân tộc của tổ quốc Việt Nam. “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe liên minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thực sự đã thành một nước tự do độc lập.”

Bằng trí tuệ sâu rộng và cảm quan của một nhà cách mạng đầy sáng suốt, Bác đã vạch mặt thực chất dối trá của kẻ thù. Bằng lí luận chặt chẽ, Bác đã đưa ra cơ sở pháp lí đầy sức thuyết phục. Bằng tình cảm yêu thương thiết tha với nhân dân, lòng yêu nước sâu sắc Bác đã khơi dậy niềm tự hào, ý chí chiến đấu và khẳng định quyền lợi chính đáng của con người trên khắp toàn cầu. Tuyên ngôn độc lập xứng đáng là một tác phẩm bất hủ của một con người lớn, một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Như Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận định:

“Tài nghệ ở đây là dàn dựng được một lập luận chặt chẽ, đưa ra được những luận điểm, những dẫn chứng không ai chối cãi được và đằng sau những lí lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hóa lớn, đã tổng kết được trong một văn bản ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết kinh nghiệm của nhiều thế kỷ đấu tranh vì độc lập, tự do, vìnhân quyền của dân tộc và của nhân loại”.

Tuyên ngôn độc lập là tác phẩm nổi tiếng của Hồ Chí Minh, bên cạnh bài làm văn Phân tích Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, thầy cô và những bạn học viên rất có thể tìm hiểu thêm nhiều hơn thế nữa những bài văn mẫu khác như Giá trị lịch sử và chất chính luận trong Tuyên ngôn độc lập, Sức hấp dẫn và thuyết phục trong bản Tuyên ngôn độc lập, Phân tích giá trị lịch sử và giá trị văn chương của bản Tuyên ngôn độc lập, Giáo án bài Tuyên ngôn độc lập hay cả những phần Soạn bài Tuyên Ngôn Độc Lập.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10


Bình An

Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” số 10

Trong cuộc đấu tranh giành độc lập nhiều gian khổ, phải đối mặt với những kẻ thù cực kì nguy hiểm, nhưng dân tộc ta vẫn kiên định chiến đấu làm nên những thắng lợi lịch sử. Cách mạng tháng tám tháng công, với hoàn cảnh rộng và hẹp rất thuận lợi, chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo và đọc bản tuyên ngôn độc lập trên quảng trường Ba Đình lịch sử, mở ra một giai đoạn mới cho dân tộc Việt Nam.

Bản tuyên ngôn được chia làm ba phần hết sức rõ ràng, mạch lạc: phần một nêu lên cơ sở lí luận cho bản tuyên ngôn; phần 2 nêu cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn; phần ba là lời tuyên ngôn dõng dạc, đanh thép. Ngay từ phương diện bố cục ta đã nhận được thấy sự chặt chẽ, logic của bản tuyên ngôn. Đây rất có thể coi là điều kiện tiên quyết tạo ra sự thành công cho tác phẩm.

Phần một có vị trí, ý nghĩa sâu sắc cực kì quan trọng chính vì nó đưa ra cở sở lí luận, tư tưởng cho bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam. Để tạo cơ sở, Bác đã trích dẫn câu nói nổi tiếng, quan trọng nhất trong hai bản tuyên ngôn Pháp và Mĩ. “Tuyên ngôn Độc lập” của nước Mĩ năm 1776: “toàn bộ mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai rất có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Việc trích dẫn này nhằm những dụng ý sâu sắc của Bác.

Trước hết hai bản tuyên ngôn này từ lâu đã được cả toàn cầu thừa nhận là chân lí, là hằng số không thay đổi. Bởi vậy trích dẫn hai bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã tạo cơ sở pháp lí vững chắc, với lí lẽ cực kì khách quan và giàu sức thuyết phục. không chỉ là vậy, khi trích dẫn Hồ Chí Minh đã sử dụng lối nói “Gậy ông đập lưng ông”, Bác dùng chính lí lẽ của kẻ đang lăm le xâm lược ta để thuyết phục chúng. Nhưng hơn thế nó còn có ý nghĩa sâu sắc răn đe, cảnh tỉnh những kẻ đi xâm lược nước khác tất yếu sẽ chuốc lấy bại vong. Việc dùng hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ – cường quốc trên toàn cầu để suy ra nên độc lập của Việt Nam, Bác đã khéo léo đặt ngang hàng Việt Nam với những cường quốc đó, nhằm tôn cao vị thế, tầm vóc của dân tộc.

Và cũng vì thế mà cuộc cách mạng tháng tám vừa tiến hành cũng được sánh ngang với những cuộc cánh mạng được đánh giá là vĩ đại nhất trong lịch sử toàn cầu. Đồng thời việc sử dụng hai bản tuyên ngôn vốn được coi là tinh hoa trí tuệ của nhân loại thì Hồ Chí Minh còn đập tan luận điệu bịp bợm, xảo trá của Thực dân Pháp cho dân ta chỉ là lũ Annammit ngu dốt. Người đã sử dụng không chỉ là nhuần nhuyền mà hết sức sáng tạo khò tang tri thưc toàn cầu và nhân loại để làm giàu cho tri thức vương quốc, dân tộc mình. sau cùng việc trích dẫn đầy đủ hai bản tuyên ngôn kèm vì vậy là lời răn đe, cảnh tỉnh đã cho thấy sách lược chính trị độc đáo, tài giỏi của Hồ Chí Minh, vừa mềm dẻo vừa kiên quyết.

Sau khi trích dẫn hai bản tuyên ngôn, Bác đã suy ra Suy rộng ra câu ấy có tức là: “toàn bộ những dân tộc trên toàn cầu đều sinh ra bình đẳg dân tộc nào cũng đều có quyền sống, quyền sug sướg và quyền tự do”. Nhìn về mặt hình thức, câu suy ra của Hồ Chí Minh chỉ như là hệ quả tấ yếu của hai bản tuyên ngôn độc lập của Pháp và Mĩ. Nhưng thực chất câu suy rộng ra của Hồ Chí Minh không chỉ là là sự lặp lại mà đó là cả một bước phát triển lớn. Bởi từ quyền của con người Bác đã nâng lên khẳng định, nhấn mạnh quyền vương quốc, dân tộc.

Ý suy rộng ra đó là kết tinh cao độ của trí tuệ và tài năng vĩ đại của Người. Nó còn có ý nghĩa sâu sắc đặc biệt quan trong không chỉ là với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, mà có đối với những nước khác trên toàn cầu. Bởi sau khi bản tuyên ngôn độc lập phát hành, thì trào lưu đấu tranh ra mắt cực kì sổi nổi, mạnh mẽ. Bằng hai thao tác ngắn gọn Hồ Chí Minh đã tạo ra cơ sở về mặt tư tưởng, pháp lí cực kì vững chắc cho nền tảng độc lập của dân tộc Việt am. Cơ sở này đã tạo thành xương sống để nâng đỡ toàn bộ lí lẽ, dẫn chứng sau đó.

Để tạo thành cơ sở thực tiễn cho nền độc lập cũng như bản tuyên ngôn Bác đã tiến hành đối thọai ngầm với toàn bộ những luận điệu xảo trá, bịp bợm của thực dân Pháp, để phủ định toàn bộ quyền lợi, nghĩa vụ của chúng trên Việt Nam. Đồng thời Bác cũng khẳng định sức mạnh, tư cách của mặt trận Việt Minh. Bác đối thoại ngầm với từng luận điệu bịp bợm của thực dân pháp. Luận điệu trước tiên Thực dân Pháp tung ra khi đến Việt Nam là để khai hóa, tức là dùng văn minh nhân loại để làm cho xã hội Việt Nam phát triển tiến bộ.

Nhưng Bác đã đáp trả luận điệu bịp bợm đó bằng hệ thống lập luận hết sức mạch lạc: về chính trị chúng tiến hành thủ đoạn hà khắc, thâm độc, về kinh tế thực chất những chính sách kinh tế là để bóc lột nhân dân ta, rút cạn của cải, tiền bạc của nhân dân; về văn hóa xã hội chúng dùng những chính sách độc ác, dã man không chỉ là tác động một thế hế mà tác động đến cả nòi giống Việt. Trên toàn bộ những phương diện Bác đã đưa ra dẫn chứng hết sức điển hình, nghệ thuật liệt kê trong đoạn trích khi đã diễn tả được tội ác ông xã chất, liên tiếp của thực dân Pháp. Ngoài ra Bác còn sử dụng kiểu câu cùng một cấu trúc với đại từ “chúng” đặt ở đầu câu có tác dụng nhấn mạnh vào đối tượng mà Bác nhắm tới. Nó cũng cho thấy đây không phải là những lời tố cáo gián tiếp mà là lời tố cáo trực tiếp, đanh thép.

Với luận điệu thứ hai của kẻ thù, đến Việt Nam để bảo hộ, Bác đã bác bỏ luận điểm này bằng hai dẫn chứng rõ ràng, xác đáng, đó là hai lần Pháp bán Việt Nam cho Nhật. Bác đã minh chứng cực kì thuyết phúc, Thực dân Pháp không bảo hộ việt nam như chúng đã nêu mà thực chất chúng chỉ coi Việt Nam như một quân bài chính trị rất có thể mua bán bán cứ lúc nào.

không chỉ là vậy, với luận điệu chúng thuốc phe liên minh, Bác tiếp tục lột trần bộ mặt thật của chúng. Hai lần chúng bán việt nam cho Nhật cũng là hai lần chúng thỏa hiệp với Phát xít, phản bội phe liên minh. Chúng đã quỳ gối mở cửa cho Nhật, bằng lối diễn đạt giàu hình ảnh Bác đã tô đậm thực chất hèn nhát, bạc nhược của thực dân Pháp. Hơn nữa Bác còn đập tan luận điệu này bằng việc đưa ra dẫn chứng: trong hoàn cảnh thua chạy, chúng vẫn tìm cách khủng bố Việt Minh và giết vô số tù chính trị của ta.

Ngoài ra với luận điệu, việt nam là thuộc địa của Pháp Bác đã đập tan luận điệu này bằng phương pháp nhấn mạnh vào thực sự, mùa thu 1940 Pháp bán việt nam cho Nhật, ta là thuộc địa của Nhật chứng không phải của Pháp. Điều này đã được Bác diễn tả bằng hai câu văn lặp cấu trúc “thực sự là…” nhấn mạnh, tạo giọng tố cáo hùng hồn, đanh thép. Bằng những lập luận sắc sảo, dẫn chứng chân thực, giọng điệu đanh thép, Hồ chí Minh đã chủ động, bình tĩnh đập tan luận điệu xảo trá của Thực dân Pháp, để phủ nhận toàn bộ quyền lợi, nghĩa vụ của chúng ở Việt Nam. Đây là thực tiễn quan trọng để Bác đưa ra lời tuyên ngôn ở phần sau.

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ cơ sở lí luận và thực tiễn, Bác đã đưa ra lời tuyên ngôn cực kì hào hùng, sảng khoái. Trước hết bác đưa lời tuyên ngôn xóa khỏi toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ của Pháp trên đất Việt Nam. Thứ hai Bác tuyên bố quyết tâm chống lại toàn bộ sự xâm lược của thực dân Pháp đối với việt nam. Và sau cùng là sự khẳng định độc lập của dân tộc Việt Nam.

Bằng những lí lẽ , dẫn chứng hùng hồn, sắc sảo Hồ Chí Minh đã không chỉ là vạch trần bộ mặt bịp bợm của thực dân Pháp, mà còn mở ra mộ cách cửa mới cho dân tộc. Bản tuyên ngôn độc lập không chỉ là có giá trị chính trị lớn lao mà còn là văn bản chính luận mẫu mực.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 10 Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh hay nhất, Top 10 Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh hay nhất, Top 10 Bài văn phân tích “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *