Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng hay nhất

02-02-2021 10 35584 0 0

Báo lỗi

Nguyễn Quang Sáng (1932- 2014) là nhà văn viết về cuộc sống và con người Nam Bộ. Truyện ông thường có cốt truyện và lựa chọn những tình huống hết sức đặc sắc và giàu kịch tính. Truyện ngắn của ông thường rất giản dị vừa hiện đại và có âm hưởng. “Chiếc lược ngà” viết năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Truyện ngắn nói về tình cảm gia đình đặc biệt là tình cha con sâu nặng cao đẹp trong hoàn cảnh chiến tranh éo le được kể theo điểm nhìn của bác Ba giúp tăng tính khách quan. Truyện thành công trong việc tạo dựng tình huống bất ngờ, tự nhiên và hợp lí, thành công nữa là mô tả tâm lí nhân vật sâu sắc qua suy nghĩ, hành động và lời nói. Mời những bạn xem thêm một số bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

12345678910

1


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” số 1

Nguyễn Quang Sáng viết truyện Chiếc lược ngà năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ trong giai đoạn chống Mĩ. Là một nhà văn quê ở miền tây-nam Bộ, hầu như ông chỉ viết về cuộc sống và con người của quê trong chiến tranh và sau hoà bình. Truyện ngắn này ra mắt trong hoàn cảnh đạn bom ác liệt nhưng lại triệu tập nói về tình người, cụ thể là tình cha con của người chiến sĩ cách mạng.

Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến lúc đứa con gái đầu lòng mới một tuổi. Mãi đến khi nó lên tám tuổi, anh mới có dịp về thăm nhà. Con bé không nhận anh Sáu là cha vì vết thâm sẹo trên mặt khiến anh không giống trong Bức hình chụp cùng với vợ mà bé Thu đã được má cho xem. Đến lúc bé Thu nhận thấy cha thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi. Tình cha con thiêng liêng trỗi dậy mãnh liệt trong em khiến cho mọi người xúc động. Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng cô con gái bé nhỏ. Trong một trận càn của giặc, anh Sáu bị thương nặng.

Trước lúc nhắm mắt, anh còn kịp trao cây lược ngà cho người bạn, với ý nhờ mang về quê trao tận nơi con gái của tôi. Tình cha con sâu sắc được tác giả thể hiện qua hai tình huống: Tình huống thứ nhất là cuộc gặp gỡ của hai cha con sau tám năm xa cách. Thu đối xử với cha như đối với người xa lạ. Đến lúc em nhận thấy và ôm riết lấy cha, thể hiện tình cảm mãnh liệt thì anh Sáu lại phải ra đi làm nhiệm vụ.

Tình huống thứ hai là ở khu căn cứ, anh Sáu dồn toàn bộ tình yêu thương, mong nhớ con vào việc làm cây lược ngà để tặng con, nhưng anh đã hi sinh và không kịp trao món quà ấy cho con gái. Tình huống này thể hiện tình cảm sâu nặng của người cha đối với con. Sau nhiều năm xa cách, anh Sáu chỉ thấy con qua Bức Ảnh nhỏ luôn mang bên người. Đến lúc được về thăm nhà, bao nỗi nhớ thương chất chứa từ lâu nên anh Sáu không kìm được thú vui khi nhìn thấy bé Thu: Cái tình người cha cứ nôn nao trong người anh. “Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi, tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoán biết là con, không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với. Anh bước vội vàng với những bước dài, rồi dừng lại kêu to: Thu! Con!”

Nhưng thật trớ trêu, đáp lại tình cảm nồng nàn của người cha, bé Thu lại tỏ ra sợ hãi và ngờ vực. Anh Sáu càng muốn gần con để vỗ về yêu thương thì đứa con lại càng tỏ ra lạnh nhạt, xa lánh. Diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần gặp cha thứ nhất được tác giả mô tả ở hai thời điểm trước và sau khi nhận thấy cha. Tâm lí và thái độ của bé Thu được tác giả thuật lại rất sinh động qua hàng loạt những chi tiết vừa cảm động, vừa buồn cười: Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Lần thứ nhất nhìn thấy người đàn ông lạ, lại xưng là ba, con bé hết sức ngạc nhiên và sợ hãi, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “Má ! Má !”

Khi má bảo gọi cha vào ăn cơm, nó nhất quyết không chịu. Má ép quá, bé Thu chỉ gọi trống không: Vô ăn cơm! Kể cả lúc má đi vắng, nó lâm vào thế bí, muốn nhờ anh Sáu chắt bớt nước nồi cơm đang sôi mà cũng vẫn nói trổng, nhất định không gọi là cha. Anh Sáu lặng im xem nó làm cách nào. Bé Thu lấy vá (muôi) múc nước ra, vừa múc vừa lầu bầu tức giận. Bữa cơm, anh Sáu âu yếm gắp cho con cái trứng cá vàng ươm. Bé Thu bất ngờ lấy đũa hất rơi xuống đất. Anh Sáu không nén được tức giận, đánh con một chiếc vào mông. Bé “lặng lẽ đứng lên, bước ra khỏi mâm” bỏ ăn, chèo xuồng về nhà bà ngoại bên kia sông. Lúc cởi dây xuồng, nó còn cố ý khua dây xích kêu rộn ràng để tỏ ý bất bình.

Sự ương ngạnh của bé Thu đúng là tâm lí và tính cách trẻ con nên không đáng trách. Trong hoàn cảnh chiến tranh, Thu còn quả nhỏ nên không thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt, éo le. Phản ứng rất tự nhiên chứng tỏ bé Thu có cả tính mạnh mẽ, tình cảm sâu sắc và chân thực. Bé chỉ yêu khi tin chắc người đó đúng là ba của tôi. Trong thái độ cứng đầu của bé chứa đựng cả sự kiêu hãnh giành cho người cha thân yêu – tức là người đàn ông điển trai trong tấm hình chụp chung với má. Khi đã nhận được ra cha, cảm xúc và hành động của bé Thu thể hiện thật mãnh liệt, khác hẳn lúc trước.

Ba ngày nghỉ phép đã hết. Trước lúc lên đường, anh Sáu đang bịn rịn chia tay thì bất chợt bé Thu cất tiếng gọi ba và tiếng kêu như xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa… Hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ xíu của nó run run.

Điều gì đã dẫn đến sự thay đổi đột ngột trong thái độ cùa bé Thu? Thì ra khi bỏ về nhà bà ngoại, Thu đã được bà giải thích về vết thâm sẹo làm thay đổi vẻ mặt của cha là do giặc Pháp bắn bị thương. Sự nghi ngờ đã được giải toả và bé Thu ân hận, hối tiếc về cung cách cư xử lạnh nhạt của tôi đối với cha: Nghe bà kể, nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn. Vì thế, trong phút chia tay, tình yêu và nỗi mong nhớ đối với người cha xa cách lâu nay đã bùng ra thật mạnh mẽ khiến bé Thu bồn chồn, cuống quýt. Chứng kiến cảnh ngộ éo le của cha con anh Sáu, nhiều người không cầm được nước mắt. Lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu những hi sinh mà bạn mình phải chịu đựng khiến cho bác Ba tức người kể chuyện – thật sự xúc động. Diễn biến mẩu chuyện được trần thuật theo lời bác Ba, người bạn tri kỷ thiết của anh Sáu. Bác Ba đã chứng kiến tận mắt cảnh ngộ éo le của cha con anh Sáu và trong lòng bác dâng lên một nỗi xót xa. Bác bỗng thấy không thở được như có bàn tay nắm lấy trái tim.

Qua việc mô tả diễn biến tâm lí, ngôn ngữ và hành động của bé Thu, tác giả đã làm nổi rõ một số nét trong tính cách nhân vật. Tình cảm cha con của bé Thu thật sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng cũng thật dứt khoát, rạch ròi. Cá tính của bé Thu cứng cỏi đến mức ương ngạnh, nhưng thực ra Thu rất hồn nhiên, ngây thơ. Tác giả tỏ ra am hiểu và diễn tả rất sinh động tình cảm trẻ thơ trong sáng. Sức hấp dẫn của truyện Chiếc lược ngà, toát ra từ cốt truyện đơn giản nhưng chặt chẽ, cùng những yếu tố bất ngờ mà hợp lí. Chuyện bé Thu lâu không nhận cha, rồi lại biểu lộ những tình cảm thật nồng nhiệt, đầy cảm động với cha trước lúc chia tay. Sự bất ngờ đã gây được hứng thú cho ngườ đọc, nhất là khi hiểu được diễn biến lôgic ở bên trong những sự việc, hành động có vẻ xích míc.

Tình cảm cha con sâu nặng đã được tác giả thể hiện phần nào trong chuyến anh Sáu về phép thăm nhà và được mô tả kĩ lưỡng hơn khi anh Sáu vào căn cứ kháng chiến trong rừng sâu. Sau khi chia tay với gia đình, nỗi day dứt, ân hận ám ảnh anh Sáu suốt nhiều ngày là việc anh đã lỡ tay đánh con. Lời dặn tha thiết của đứa con: Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba!”, đã thôi thúc anh nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà nhỏ xinh dành tặng con gái. tìm được một khúc ngà voi nhỏ, anh Sáu mừng rỡ cực kì. Anh dành hết tâm trí vào việc làm cây lược: Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc. Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

Chiếc lược ngà đã thành một kỉ vật quý giá, thiêng liêng đối với anh Sáu. Nó làm dịu đi nỗi ân hận, dằn vặt lâu nay và ấp ủ bao nhiêu tình cảm nhớ thương, mong đợi của người cha đối với đứa con xa cách. Cây lược ngà ấy vẫn chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh. Nhưng rồi một tình cảnh đau thương lại đến với cha con anh Sáu. Anh đã hi sinh khi vẫn chưa kịp trao tận nơi đứa con gái chiếc lược ngà. Những lời kể lại của bác Ba, người trong cuộc, đã làm nổi trội giá trị thiêng liêng bền vững của tình cha con và tình đồng chí của những chiến sĩ cách mạng. Truyện Chiếc lược ngà có những tính chất khá tiêu biểu cho phong thái nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng. Cốt truyện hấp dẫn, xoay quanh những tình huống bất ngờ nhưng vẫn tự nhiên, hợp lí. Giọng kể mộc mạc, tự nhiên. Ngôn ngữ gần với khẩu ngữ và đậm màu sắc Nam Bộ. Đặc sắc của truyện ngắn này còn thể hiện ở ngòi bút mô tả tâm lí, đặc biệt là tâm lí trẻ em rất tinh ý và chính xác. Điều đó thể hiện sự nhạy cảm và tấm lòng yêu thương, trân trọng của nhà văn với con người và cuộc đời.

Một điểm đáng để ý nữa và cũng là điều góp phần tạo ra thành công của truyện ngắn này là việc lựa chọn nhân vật kể chuyện. Người kể chuyện trong vai một người bạn chiến đấu thân thiết của anh Sáu không chỉ có chứng kiến và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm, san sẻ với những nhân vật. Qua những quan sát và cảm xúc của người kể, những chi tiết, sự việc và nhân vật trong truyện đều được phản ánh chân thực, khắc hoạ rõ nét, góp phần nêu bật nội dung tư tưởng của tác phẩm.

Truyện Chiếc lược ngà đã diễn tả một cách xúc động tình cảm thắm thiết, sâu nặng của cha con anh Sáu. Trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh, tình cảm thiêng liêng ấy càng cao đẹp và ngời sáng. mẩu chuyện không chỉ có nói lên tình cha con thiêng liêng mà còn gợi cho người đọc suy ngẫm và thấm thía những éo le, đau thương, mất mát mà chiến tranh mang đến cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình. Vì vậy mà ý nghĩa sâu sắc tố cáo, lên án chiến tranh xâm lược của truyện khá sâu sắc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” số 2

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn chuyên viết về cuộc sống và con người Nam Bộ với rất nhiều thể loại không giống nhau: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch…Tác phẩm “Chiếc lược ngà” được nhà văn sáng tác năm 1966 tại chính chiến trường miền Nam trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mĩ đang ra mắt quyết liệt. Truyện thể hiện thật thấm thía, cảm động tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Qua thiên truyện, chúng ta thấy được tài năng xây dựng tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật khắc họa mô tả tâm lí, tính cách nhân vật khéo léo của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Truyện được xây dựng trên hai tình huống cơ bản: Tình huống thứ nhất: Hòa bình lập lại, anh Sáu được nghỉ phép về thăm nhà, thăm con sau tám năm ròng xa cách. Nhưng thật trớ trêu thay, bé Thú đã không chịu nhận anh Sáu là cha vì trên khuôn mặt anh có vết thẹo (khác với tấm hình chụp với mẹ nó). Và đến lúc Thu hiểu ra và biểu lộ tình cảm với cha thì cũng là lúc ông Sáu phải lên đường. Tình huống thứ hai: Anh Sáu quay về chiến khu và dồn hết toàn bộ tình thương, nỗi nhớ con bằng phương pháp làm một chiếc lược ngà để tặng cho con. Nhưng anh vẫn chưa kịp trao món quà ấy cho con thì anh đã hi sinh. Trước lúc nhắm mắt, anh đã nhờ đồng đội trao tận nơi chiếc lược đó cho con gái. Với cách tạo tình huống truyện như thế, nhà văn đã đầy mẩu chuyện lên sự kịch tính, chất chứa yếu tố bất ngờ và xúc động. Tình huống thứ nhất là tình huống cơ bản của truyện, bộc lộ tình cảm mãnh liệt của Thu với cha. Tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha giành cho đứa con gái bé nhỏ. Từ đó bật sáng tư tưởng chủ đề của tác phẩm: tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt nhưng éo le, đau khổ trong chiến tranh.

Cũng qua tình huống truyện ấy, người đọc còn nhận thấy tài năng khắc họa, mô tả tâm lí, tính cách nhân vật sắc sảo của nhà văn Nguyễn Quang Sáng qua nhân vật ông Sáu và nhân vật bé Thu. Điều này được thể hiện trong haonf cảnh trước và sau khi bé Thu nhận thấy cha. rất có thể nói, niềm khao khát cháy bỏng của ông Sáu muốn được nghe một tiếng “Ba” lớn lao bao nhiêu thì bé Thu – con ông Sáu lại càng lảng tránh, xa cách đến bấy nhiêu. Từ đó, những nét tâm lí giằng xé, đấu tranh nội tâm của hai cha con cứ ra mắt, biểu lộ tình cha con sâu nặng, cao quý và rất đỗi thiêng liêng, cao quí.

Ông Sáu được phép về thăm nhà, thăm con sau tám năm ròng xa cách, lòng nôn nao, mong ngóng được gặp con cháy rực trong lòng ông. Không đợi thuyền cập bến, ông Sáu đã “nhón chân nhảy thót lên bờ, xô chiếc xuồng tạt ra” rồi “bước vội vàng với những bước dài”, miệng “kêu to tên con, vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con”. “Anh không kìm nổi nỗi xúc động” khi hội ngộ con, vết thâm sẹo dài bên má lại đỏ ửng , giần giật trông dễ sợ. Giọng lắp bắp, run run: “Ba đây con!, Ba đây con!”. Thế nhưng, trái lại với tình cảm đó của ông, bé Thu lại cảm thấy sợ hãi, giật mình tròn xoe mắt, bỏ chạy rồi thất thanh gọi “Má, má”. “Anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”. Tâm trạng ông Sáu đau khổ cực độ, ông mong ngóng được con chạy lại ôm mình nhưng đứa con bé nhỏ, ngây thơ lại xa lánh, hoảng sợ khiến ông hụt hẫng, đau đớn và vô vọng.

Trong ba ngày được nghỉ phép ở nhà, Ông Sáu tìm đủ mọi cách để được gần gũi con bé, nhưng có vẻ như mọi sự cố gắng ấy đều trở thành thất bại. Bé thu càng trở thành ngờ vực, sợ hãi. Khi mẹ bảo mời cha vào ăn cơm, bé vẫn nhất quyết không gọi ba và lại nói trổng “vô ăn cơm”, “cơm chín rồi”. trong cả khi bé bị ép vào đường cùng là chắt nước nồi cơm, dù loay hoay không biết phải xử lý thế nào, nó cũng chẳng chịu gọi. Bé ướng bướng tới mức, chú Ba cũng phải thở dài “con bé đáo để thật” hay trong bữa ăn khi gắp miếng trứng cá vào chén nó, nó lấy đũa soi vào trong chén rồi bất thần hắt cả miếng trứng cá ra khỏi chén, bắn tung tóe ra ngoài mâm, ông Sáu tức giận không kiềm chế được cảm xúc đã đánh con và bất lực mà thét lên “sao mày cứng đầu quá vậy!”. có vẻ như ông khao khát có được tình cảm của con bao nhiêu thì con bé lại hoàn toàn lạnh lùng trước mọi tình cảm vồ vập của cha bấy nhiêu. Ông càng muốn xích gần nó, nó lại càng lùi xa; ông càng chiều thương nó, nó lại càng lẩn tránh; ông càng mong được nghe tiếng ba thì nó lại càng không gọi. Ông kiên nhẫn, đợi chờ tình cảm của con “ suốt mấy ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con”, “anh quay lại nhìn con vừa khẽ lắc đầu, vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được nên anh phải cười vậy thôi”.

Tuy nhiên, thái độ bướng bỉnh, ương ngạnh đó của bé thu hoàn toàn không đáng trách. Bởi đơn giản là vì bé thấy người cha của hiện tại trước mắt khác với tấm hình chụp chung với má của bé quá. Vả lại Thu còn quá bé nhỏ để rất có thể thấu hiểu được sự khắc nghiệt của cuộc sống, của chiến tranh và người lớn cũng vẫn chưa kịp giả thích cho bé hiểu nên bé không tin là người có vết thâm sẹo trên mặt kia là ba của tôi. Đồng thời, điều đó cũng chứng tỏ tình cảm sâu sắc của bé giành cho ba. Bé chỉ yêu, chỉ nhận ba khi biết chính xác đó là ba của bé mà thôi.

Vì thế, sau khi ngủ một đêm bên nhà bà ngoại, được ngoại giải thích về nguyên nhân vết thâm sẹo trên má của ba, bé Thu cảm thấy khó chịu, cả đêm lăn lóc không ngủ, xen lẫn niềm ân hận, khi đã đối xử với ba không tốt. Buổi sáng chia tay ấy, trước lúc ông Sáu lên đường, thái độ và hành động của bé khác hoàn toàn mọi khi: “nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu”. Khi đối diện với ông Sáu, “đôi mắt mông mông của con bé bỗng xốn xang”, “tình cảm cha con như bỗng trỗi dậy trong người nó”, “nó kêu thét lên: “Ba…a…a…ba!”. Sự khao khát tình cảm cha bị kìm nén suốt mấy năm, nay bỗng bật lên xé tan cả sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, “nghe thật xót xa”.

Thế rồi, nó vừa kêu, vừa chạy tới, nhanh như một con sóc, “nó chạy thót lên và dang hai tay ôm siết lấy cổ ba nó”. Sự xúc động ngẹn ngào đã khiến “làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên”. Nó hôn khắp người ông Sáu, “hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Sợ cha đi mất, “chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân câu lấy ba nó và đôi vai nhỏ xíu của nó run run”. Sau khi nghe ông Sáu nói: “Ba đi rồi ba về với con”, bé Thu thét lên: “không!”. Vừa khóc vừa không cho cha đi. Giọt nước mắt ấy là thể hiện của tình cha con ấm cúng, của sự hạnh phúc vỡ òa khi nhận thấy cha sau tám năm xa cách, lại vừa xen lẫn cả sự ăn năn, hối hận vì không kịp nhận thấy cha sớm hơn chút nữa… Chứng kiến cảnh ngộ ấy, có người đã không cầm được nước mắt, còn bác Ba thì cảm thấy như có bàn tay nắm lấy trái tim mình mà bóp thắt lại…Qua thái độ và hành động của bé Thu trước và sau khi nhận thấy ông Sáu là cha mình, người đọc thấy được đằng sau sự hồn nhiên, ngây thơ và cứng đầu, bướng bỉnh của bé là tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt, thiêng liêng. Đồng thời, người đọc cũng thấy được Nguyễn Quang Sáng là nhà văn rất am hiểu tâm lí và yêu thích trẻ thơ nên mới có những trang văn thật sinh động và cảm động về tình cha con đến như vậy!.

Trong Chiếc lược ngà, tình cảm của ông Sáu giành cho con cũng mãnh liệt, sâu nặng không kém. Tình cảm ấy được tác giả thể hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà và được mô tả kỹ lưỡng hơn khi ông ở căn cứ kháng chiên. Về tới chiến khu, ông Sáu cảm thấy day dứt,ân hận vì đã nóng giận đánh con. Ông dồn toàn bộ tình thương, nỗi nhớ con bằng việc làm một cây lược ngà – lời hứa với con trước lúc chia tay. tìm được khúc ngà voi, ông “hớn hở như một đứa trẻ được quà”, rồi dành hết tâm trí, tình cảm vào làm một cây lược. “Anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Trên sống lưng của chiếc lược có khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” mà ông gò lưng, khắc từng nét một. Chiếc lược ngà phần nào gỡ rối được tâm trạng của người cha. Chiếc lược trở thành vật qúy giá mà ông dồn toàn bộ tình cảm yêu thương con của người cha sau tám năm ròng xa cách.

Vì thế, mỗi khi nhớ con, ông lại mang chiếc lược ra ngắm và chải lên tóc mình cho thêm bóng, thêm mượt. Nhưng rồi ông Sáu đã hi sinh trong một trận càn của giặc, khi còn chauw kịp trao cây lược cho con gái. Trước lúc tắt thở, không hề sức trăng trối lại điều gì, “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”, ông đã lấy cây lược mà ông thường mang theo bên mình rồi trao cho bác Ba và nhìn người bạn một hồi lâu, cái nhìn như gửi gắm sự ủy thác thiêng liêng. Chỉ khi nhận được lời hứa cua bác Ba, “mang về tận nơi trao cho cháu” thì người cha mới nhắm mắt. Điều đó cho ta thấy tình cha con mãnh liệt và tha thiết của ông Sáu. Qua mẩu chuyện, người đọc không chỉ có cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng của ông Sáu mà còn thấm thía về những đau thương, mất mát, éo le mà chiến tranh đã gây ra. Đồng thời thấy được những hi sinh thầm lặng mà cao quý của những người lính trong chiến tranh…

Như vậy, qua việc phân tích ở trên, chúng ta thấy “Chiếc lược ngà” có một cốt truyện khá chặt chẽ, xây dựng được những tình huống bất ngờ hợp lí. Ngoài việc xây dựng thành công hai nhân vật chính bé Thu và ông Sáu, tác giả còn thành công trong việc lựa chọn nhân vật người kể chuyện: xưng “tôi”, ngôi thứ nhất, là ông Ba – người bạn tri kỷ thiết của ông Sáu trong chiến tranh. Ông không chỉ có dừng lại ở việc chứng kiến mẩu chuyện, rồi kể lại theo điểm nhìn của tôi mà cao hơn, ông Ba còn bày tỏ sự đồng cảm, san sẻ với những nhân vật như một người trong cuộc. Chọn nhân vật kể chuyện như vậy, khiến cho mẩu chuyện trở thành đáng tin cậy, tăng theeo sự chân thực cho những tình tiết được kể. Người kể chuyện lại hoàn toàn chủ động điều khiển nhịp kể theo trạng thái cảm xúc của tôi, chủ động xen vào những ý kiến comment, suy nghĩ để dẫn dắt sự tiếp nhận của người đọc, người nghe…toàn bộ góp phần đắc lực tạo ra sự thành công của thiên truyện, cũng như ý nghĩa sâu sắc tư tưởng của tác phẩm được bộc lộ rõ hơn.

Tóm lại, qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, chúng ta thực sự thấm thía và cảm động trước tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt của cha con ông Sáu trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Truyện không chỉ có dừng lại ở việc khắc họa tình cảm phụ tử mà còn có ý nghĩa sâu sắc tố cáo hiện thực, tố cáo chiến tranh đã đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đã phá tan đi biết bao nhiêu là hạnh phúc của những gia đình, khiến vợ ông xã xa cách, cha con xa nhau. Từ mẩu chuyện, chúng ta càng cảm thấy trân trọng hơn nền hòa dân dã tộc và càng quí trọng hơn tình cảm gia đình mà mở rộng ra là tình yêu quê tổ quốc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” số 3

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. những sáng tác của ông triệu tập chủ yếu về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai trận chiến cũng như sau hòa bình. Chiếc lược ngà là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông được sáng tác năm 1966. Tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về tình cảm cha con sâu nặng trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.

Tác phẩm xoay quanh tình huống truyện éo le: Ông Sáu sau tám năm xa nhà đi kháng chiến, ông được nghỉ ba ngày phép về thăm nhà, thăm con. Trước nỗi xúc động và tình cảm yêu mến của ông, bé Thu – đứa con gái ông yêu quý, mong nhớ suốt tám năm trời đã không nhận thấy ông là ba. Ngày ông phải trả phép về đơn vị cũng đó là ngày con bé nhận ông là ba. Ở đơn vị, ông Sáu dồn toàn bộ tình yêu, nỗi nhớ, nỗi ân hận vào việc làm chiếc lược ngà để tặng con. Nhưng vẫn chưa kịp trao cây lược cho con thì ông đã hi sinh trong một trận càn lớn của Mỹ. Từ tình huống truyện, tác phẩm tôn vinh, ngợi ca tình khúc tình cha con sâu nặng, đồng thời tố cáo tội ác chiến tranh.

Truyện xoay quanh hai nhân vật đó là bé Thu và ông Sáu, trải qua tình huống truyện éo le, mỗi nhân vật bộc lộ tính cách, phẩm chất của tôi. Trước hết về bé Thu, em là con của ông Sáu nhưng từ nhỏ đã phải xa cha do ba vào chiến trường. Sau tám năm xa cách, Thu được hội ngộ ba, những tưởng đó sẽ là cuộc đoàn viên đầy hạnh phúc, nhưng trái ngược với ông Sáu mừng rỡ lao về phía em thì Thu dửng dưng, thậm chí hốt hoảng gọi Má. Má . Những ngày sau đó, dù ông Sáu hết lòng chăm sóc nhưng bé Thu vẫn lạnh nhạt, thậm chí xa lánh, ngang ngạnh cự tuyệt ông Sáu. Dù ông đã làm hết cách nhưng bé Thu vẫn không gọi ông là ba. Những lúc gặp khó khăn, nguy cấp Thu chỉ gọi trống không, không nhận được sự trợ giúp của ông Sáu, nó cũng loay hoay tự làm một mình.

Trong bữa cơm, ông Sáu gắp cho nó cái trứng cá, Thu gạt ra, bị ông Sáu đánh, cô nàng lập tức bỏ về nhà bà ngoại. Nguyễn Quang Sáng đã mô tả thật chính xác thái độ, hành động khác thường của bé Thu. Bởi trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt em không hiểu những éo le mà chiến tranh gây ra, nên chỉ vì một vết thẹo trên mặt ông Sáu em kiên quyết không nhận ba. Điều đó cũng cho thấy Thu là đứa trẻ bướng bỉnh, cá tính nhưng đằng sau sự từ chối đến cứng đầu đó là tình yêu thương thắm thiết Thu giành cho ba mình.

Bé Thu cứng đầu chối từ sự ân cần của cha bao nhiêu thì giây phút nhận thấy cha lại mãnh liệt, xúc động bấy nhiêu. Sau khi nghe bà ngoại giải thích, bé Thu đã trở về nhà trong sáng ngày ông Sáu lên đường về đơn vị. Con bé đã thay đổi hoàn toàn thái độ trong sự ngỡ ngàng của ông Sáu và mọi người, tiếng gọi ba của Thu là tiếng gọi kìm nén suốt tám năm, tám năm yêu thương, đợi chờ ngày ba về. không chỉ có gọi, con bé con lao tới, nhảy lên người ba và hôn khắp cùng, hôn mặt, hôn má, và hôn cả vết thẹo dài trên mặt ba, vết thẹo đã khiến con bé bướng bỉnh không nhận ba. Thu ôm chặt anh, quàng cả chân vào người anh Sáu, chính vì nó sợ buông lơi anh Sáu sẽ đi mất, cái ôm cái hôn ấy còn như muốn bày tỏ toàn bộ tình cảm Thu giành cho ba. Trong khoảnh khắc đó, ai cũng như lặng người đi vì xúc động. Với lối mô tả chân thực, giàu cảm xúc tác giả đã cho thấy tình yêu thương sâu nặng Thu giành cho ba, dù có những lúc gan góc, bướng bỉnh nhưng em rất giàu tình cảm và dễ xúc động.

Về phía ông Sáu, trong ba ngày về nghỉ phép, ông dành trọn yêu thương cho đứa con gái bé nhỏ. Thuyền vẫn chưa cập bến ông đã vội vàng nhảy lên bờ, chạy về phía con, đôi bàn tay sẵn sàng dang ra chờ đón đứa con sà vào lòng. Nhưng trái ngược với điều ông tưởng tượng, bé Thu cự tuyệt, lảng tránh, điều đó làm ông hết sức đau lòng, hai tay ông buông thõng như bị gãy. Khuôn mặt ấy thật đáng thương biết bao, ông không biết làm thế nào để rất có thể xóa nhòa khoảng cách thời gian và không gian ấy. Để bù đắp cho con, ba ngày nghỉ phép ông không đi đâu, chỉ quanh quẩn bên con, yêu thương, ân cần bên con mong Thu sẽ thay đổi. trước sự việc cứng đầu của Thu, ông chỉ khẽ lắc đầu, chứ không hề trách mắng con. Chỉ đến khi ông gắp đồ ăn cho nó bị Thu bỏ ra, bao nhiều buồn đau dồn nén lâu nay ông đã đánh Thu, Điều này đã làm ông ân hận mãi về sau. Khoảnh khắc hạnh phúc nhất mà cũng đau lòng nhất của ông đó là được nghe tiếng gọi ba thiêng liêng, nhưng đó cũng là lúc ông phải chia tay con trở về đơn vị.

Một người lính từng trải, gan góc trên chiến trường lại khóc bởi tiếng gọi đầy thân thương. Những giọt nước mắt không thể kiềm chế, cứ thế trào ra. Trong những ngày ở chiến trường ông ân hận vì đánh con, không quên lời hứa, ông dồn tâm huyết vào làm chiếc lược ngà. Ông chi chút, tỉ mẩn mài từng chiếc răng lược cho nhẵn bóng. Thậm chí, cái chết cũng không cướp đi được tình yêu thương con của ông Sáu. Vết thương nặng trong một trận càn khiến ông kiệt sức, không trăng trối được điều gì nhưng ông vẫn dồn hết tàn lực móc cây lược trao cho đồng đội và gửi gắm đồng đội mình qua ánh nhìn đây yêu thương. Cây lược ấy đã được người đồng đội trao lại cho bé Thu. Tình cha con đã không chết, nâng đỡ cô nàng trưởng thành, vượt lên mọi đau thương mất mát. Ông Sáu là hình tượng cho tình yêu thương, sự ân cần và che chở của người cha giành cho con mình. Qua đó ta thấy được sự bất tử của tình cảm cha con trong hoàn cảnh chiến tranh.

Tác phẩm đã xây dựng được tình huống truyện độc đáo, bất ngờ qua đó thể hiện chủ đề của tác phẩm. Nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật tinh ý, sâu sắc, thích hợp với lứa tuổi. Lối kể chuyện chân thực, tự nhiên, giàu cảm xúc. Hình ảnh giản dị, mà giàu giá trị, ý nghĩa sâu sắc hình tượng, kết tinh trong hình tượng chiếc lược ngà. Ngôn ngữ đậm giản dị, đậm chất Nam Bộ.

mẩu chuyện đã tái hiện thành công tình cha con sâu nặng của bé Thu và ông Sáu. Từ đó, tác giả cho thấy sự tàn bạo của chiến tranh; những thảm kịch cùng tình cảm gia đình đẹp đẽ trong thời chiến. Đồng thời tác phẩm cũng ca tụng tình cảm phụ tử thiêng liêng trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” số 4

Nguyễn Quang Sáng viết tác phẩm “Chiếc lược ngà” khi mà miền Bắc VN đã giải phóng đang tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, tăng gia tài xuất và chi viện cho tiền tuyến Miền Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh Nam – Bắc chia hai nhiều người con miền Bắc đã phải đi bộ dọc rừng Trường Sơn để vào Miền Nam đánh Mỹ cứu nước thống nhất nước nhà, nhiều gia đình vì thế mà ly biệt.

Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” tố cáo tội ác của chiến tranh, tố cáo chiến tranh phi nghĩa mà giặc Mỹ đã gieo xuống dân tộc ta, làm cho tổ quốc ta phải chia hai. Nhiều người con phải xa cha, người vợ xa ông xã. Truyện ngắn kể về cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của anh Sáu một chiến sĩ cách mạng với ba ngày nghỉ phép về thăm nhà, được gặp cô con gái đầu lòng vẫn chưa từng nhìn thấy mặt. Con bé Thu không nhận thấy ba mình, chính vì nó chỉ nhìn thấy hình ảnh anh Sáu qua Bức hình chụp ngày ba mẹ cưới nhau. Còn anh Sáu hiện tại thì già hơn, sương gió hơn, đặc biệt là vết thâm sẹo do chiến tranh để lại làm khuôn mặt anh có nhiều biến dạng.

Thu là một có bé cá tính, có chút ngang ngạnh, gai góc. Nhưng cũng là người sống cực kì nội tâm, sâu sắc. Những ngày anh Sáu về phép nó nhất quyết không chịu nhận anh làm ba. Nói năng với anh chỉ trống không. Nhưng khi anh sắp phải lên đường đi công tác nhận nhiệm vụ mới, thì nó òa khóc. Ôm chầm lấy ba mà nói “Không cho ba đi. Ba phải ở nhà với con”. Tình cảm cha con thật thiêng liêng, xúc động khiến nhiều người đọc phải nghẹn ngào bật khóc. Tác giả Nguyễn Quang Sáng đã cực kì tinh ý khi khắc họa cô nàng Thu láu lỉnh, gai góc nhưng có cá tính riêng, nội tâm sâu sắc. Anh Sáu là người cha thương con, nhẫn nhịn thể hiện tình cảm cha con bền chặt, ruột thịt gắn bó không gì rất có thể chia cắt được.

Những ngày ở khu căn cứ, anh Sáu đã dành thời gian tình cảm của tôi làm tặng cho con gái một chiếc lược ngà để tặng cô con gái bé nhỏ. Trong một trận càn của giặc, không may anh Sáu bị thương nặng. Trước lúc nhắm mắt, anh chỉ biết trao cây lược ngà cho người bạn tri kỷ, đồng đội chiến đấu của tôi để mang về tặng cô con gái giúp mình. Món quà thứ nhất và cũng là sau cùng chứa đựng biết bao tình cảm sâu sắc, thiêng liêng của người cha giành cho con. Tình huống truyện cực kì độc đáo, thể hiện nỗi đau của chiến tranh khi đã làm tan nát nhiều gia đình hạnh phúc, yên ấm.

Tình huống truyện được tác giả Nguyễn Quang Sáng thể hiện cực kì khéo léo, tinh ý: Cuộc gặp gỡ định mệnh của hai cha sau bao năm xa cách. Bé Thu là một cô nàng mong muốn có cha, luôn khao khát gặp ba. Nhưng khi gặp ba thì em lại không nhận thấy. Sự lạnh nhạt của em giành cho ba ông Sáu trong những ngày nghỉ phép thể hiện sự trẻ con của một cô nàng tám tuổi. Anh Sáu khi được nghỉ phép về nhà nhìn thấy con gái anh vui mừng ôm chầm lấy con bằng tình cảm nồng nàn của người cha phải xa đứa con gái bé nhỏ lâu ngày. Nhưng đáp lại tình cảm của anh con bé Thu chỉ hững hờ tránh né, tỏ vẻ xa lánh và coi anh như người lạ.

Khi má bảo gọi bà vào ăn cơm con bé chỉ ra ngoài và đáp trống không “Vô ăn cơm”. Kể cả khi má không tồn tận nơi nó muốn nhờ anh Sáu bỏ bớt nước nồi cơm cho mình nhưng không biết xưng hô ra làm sao. Nó cũng nói trống không nhất quyết không gọi anh Sáu bằng ba. Không nhờ anh Sáu. Anh Sáu im lặng để ý xem con định làm ra làm sao thì con bé nhanh nhẹn lấy muôi múc từng ít nước bỏ đi cho cơm khỏi nhão. Trong bữa ăn cơm anh Sáu thương con gắp đồ ăn cho nó nhưng nó hất tay anh ra làm cho miếng đồ ăn rơi xuống đất, hành động của nó khiến anh tức giận và đánh cho con bé một chiếc vào mông. Con bé bỏ cơm rồi chèo thuyền sang nhà bà ngoại.

Diễn biến tâm lý của cô nàng Thu được tác giả Nguyễn Quang Sáng thể hiện rất sinh động chi tiết, khiến người đọc cảm nhận được cô nàng là người cá tính, gai góc giống như một con nhím nhỏ luôn xù lông của tôi ra để bảo vệ lớp thịt mềm yếu bên trong. Nội tâm của con bé Thu cực kì sâu sắc, tình cảm. Trong thái độ cứng đầu của bé Thu thể hiện tình cảm thiêng liêng mãnh liệt của cô nàng giành cho cha mình, bởi cô nàng không biết ông Sáu mặt có vết thâm sẹo kia đó là ông Sáu trong bức hình chụp cùng mẹ ngày cưới. Nên cô nàng mới có thái độ chống đối như vậy mà thôi.

Ba ngày phép ngắn ngủi rồi cũng qua, ngày ông Sáu chuẩn bị lên đường đang bịn rịn chia tay người nhà thì bất chợt cô nàng Thu cất tiếng gọi rồi nó lao vào ôm ba “không cho ba đi” vừa nói nó vừa khóc, nghe thật cảm động xót xa, thể hiện tình cảm của một người con không muốn ba mình đi xa. Tiếng ba mà cô nàng Thu gọi thể hiện sự dồn nén bao lâu trong tâm hồn cô nàng. Nó là tiếng gọi tha thiết từ đáy lòng của người con giành cho ba của tôi.

Tác phẩm Chiếc lược ngà hấp dẫn người đọc bởi cốt truyện đơn giản nhưng chặt chẽ. Tác giả đã khai thác tâm lý nhân vật cực kì tinh ý, thể hiện sự chuyển đổi tâm lý nhân vật cực kì sâu sắc, khắc họa thành công nhân vật bé Thu vừa trẻ con ngây thơ, vừa người lớn gan góc cứng đầu. Nhưng dù ở hướng nào thì cô nàng Thu cũng là người con cực kì đáng yêu. Sự hy sinh của anh Sáu và kỷ vật mà anh để lại cho con gái mình khiến cho nhiều người đọc cảm thấy xót xa, nghẹn ngào, tội ác của chiến tranh là cực kì to lớn. Chính chiến tranh đã làm cho những người con không được gần cha, nhiều người vợ không được gần ông xã. Nhiều gia đình ly tán.

Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” đã mô tả thành công, xúc động sự chuyển biến tâm trạng của nhân vật bé Thu và tình cảm sâu sắc của người cha anh Sáu giành cho cô con gái bé nhỏ của tôi.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” số 5

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn chuyên viết về cuộc sống và con người Nam Bộ với rất nhiều thể loại không giống nhau: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch…Tác phẩm “Chiếc lược ngà” được nhà văn sáng tác năm 1966 tại chính chiến trường miền Nam trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mĩ đang ra mắt quyết liệt. Truyện thể hiện thật thấm thía, cảm động tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Qua thiên truyện, chúng ta thấy được tài năng xây dựng tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật khắc họa mô tả tâm lí, tính cách nhân vật khéo léo của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Truyện được xây dựng trên hai tình huống cơ bản: Tình huống thứ nhất: Hòa bình lập lại, anh Sáu được nghỉ phép về thăm nhà, thăm con sau tám năm ròng xa cách. Nhưng thật trớ trêu thay, bé Thú đã không chịu nhận anh Sáu là cha vì trên khuôn mặt anh có vết thẹo (khác với tấm hình chụp với mẹ nó). Và đến lúc Thu hiểu ra và biểu lộ tình cảm với cha thì cũng là lúc ông Sáu phải lên đường. Tình huống thứ hai: Anh Sáu quay về chiến khu và dồn hết toàn bộ tình thương, nỗi nhớ con bằng phương pháp làm một chiếc lược ngà để tặng cho con. Nhưng anh vẫn chưa kịp trao món quà ấy cho con thì anh đã hi sinh. Trước lúc nhắm mắt, anh đã nhờ đồng đội trao tận nơi chiếc lược đó cho con gái. Với cách tạo tình huống truyện như thế, nhà văn đã đẩy mẩu chuyện lên sự kịch tính, chất chứa yếu tố bất ngờ và xúc động. Tình huống thứ nhất là tình huống cơ bản của truyện, bộc lộ tình cảm mãnh liệt của Thu với cha. Tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha giành cho đứa con gái bé nhỏ. Từ đó bật sáng tư tưởng chủ đề của tác phẩm: tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt nhưng éo le, đau khổ trong chiến tranh.

Cũng qua tình huống truyện ấy, người đọc còn nhận thấy tài năng khắc họa, mô tả tâm lí, tính cách nhân vật sắc sảo của nhà văn Nguyễn Quang Sáng qua nhân vật ông Sáu và nhân vật bé Thu. Điều này được thể hiện trong hoàn cảnh trước và sau khi bé Thu nhận thấy cha. rất có thể nói, niềm khao khát cháy bỏng của ông Sáu muốn được nghe một tiếng “Ba” lớn lao bao nhiêu thì bé Thu – con ông Sáu lại càng lảng tránh, xa cách đến bấy nhiêu. Từ đó, những nét tâm lí giằng xé, đấu tranh nội tâm của hai cha con cứ ra mắt, biểu lộ tình cha con sâu nặng, cao quý và rất đỗi thiêng liêng, cao quí.

Ông Sáu được phép về thăm nhà, thăm con sau tám năm ròng xa cách, lòng nôn nao, mong ngóng được gặp con cháy rực trong lòng ông. Không đợi thuyền cập bến, ông Sáu đã “nhón chân nhảy thót lên bờ, xô chiếc xuồng tạt ra” rồi “bước vội vàng với những bước dài”, miệng “kêu to tên con, vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con”. “Anh không kìm nổi nỗi xúc động” khi hội ngộ con, vết thâm sẹo dài bên má lại đỏ ửng, giần giật trông dễ sợ. Giọng lắp bắp, run run: “Ba đây con! Ba đây con!”. Thế nhưng, trái lại với tình cảm đó của ông, bé Thu lại cảm thấy sợ hãi, giật mình tròn xoe mắt, bỏ chạy rồi thất thanh gọi “Má, má”. “Anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”. Tâm trạng ông Sáu đau khổ cực độ, ông mong ngóng được con chạy lại ôm mình nhưng đứa con bé nhỏ, ngây thơ lại xa lánh, hoảng sợ khiến ông hụt hẫng, đau đớn và vô vọng.

Trong ba ngày được nghỉ phép ở nhà, ông Sáu tìm đủ mọi cách để được gần gũi con bé, nhưng có vẻ như mọi sự cố gắng ấy đều trở thành thất bại. Bé Thu càng trở thành ngờ vực, sợ hãi. Khi mẹ bảo mời cha vào ăn cơm, bé vẫn nhất quyết không gọi ba và lại nói trổng “vô ăn cơm”, “cơm chín rồi”. trong cả khi bé bị ép vào đường cùng là chắt nước nồi cơm, dù loay hoay không biết phải xử lý thế nào, nó cũng chẳng chịu gọi. Bé ương bướng tới mức chú Ba cũng phải thở dài “con bé đáo để thật” hay trong bữa ăn khi gắp miếng trứng cá vào chén nó, nó lấy đũa soi vào trong chén rồi bất thần hắt cả miếng trứng cá ra khỏi chén, bắn tung tóe ra ngoài mâm, ông Sáu tức giận không kiềm chế được cảm xúc đã đánh con và bất lực mà thét lên “sao mày cứng đầu quá vậy!”. có vẻ như ông khao khát có được tình cảm của con bao nhiêu thì con bé lại hoàn toàn lạnh lùng trước mọi tình cảm vồ vập của cha bấy nhiêu. Ông càng muốn xích gần nó, nó lại càng lùi xa; ông càng chiều thương nó, nó lại càng lẩn tránh; ông càng mong được nghe tiếng ba thì nó lại càng không gọi. Ông kiên nhẫn, đợi chờ tình cảm của con “suốt mấy ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con”, “anh quay lại nhìn con vừa khẽ lắc đầu, vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được nên anh phải cười vậy thôi”.

Tuy nhiên, thái độ bướng bỉnh, ương ngạnh đó của bé thu hoàn toàn không đáng trách. Bởi đơn giản là vì bé thấy người cha của hiện tại trước mắt khác với tấm hình chụp chung với má của bé quá. Vả lại Thu còn quá bé nhỏ để rất có thể thấu hiểu được sự khắc nghiệt của cuộc sống, của chiến tranh và người lớn cũng vẫn chưa kịp giải thích cho bé hiểu nên bé không tin là người có vết thâm sẹo trên mặt kia là ba của tôi. Đồng thời, điều đó cũng chứng tỏ tình cảm sâu sắc của bé giành cho ba. Bé chỉ yêu, chỉ nhận ba khi biết chính xác đó là ba của bé mà thôi.

Vì thế, sau khi ngủ một đêm bên nhà bà ngoại, được ngoại giải thích về nguyên nhân vết thâm sẹo trên má của ba, bé Thu cảm thấy khó chịu, cả đêm lăn lóc không ngủ, xen lẫn niềm ân hận, khi đã đối xử với ba không tốt. Buổi sáng chia tay ấy, trước lúc ông Sáu lên đường, thái độ và hành động của bé khác hoàn toàn mọi khi: “nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu”. Khi đối diện với ông Sáu, “đôi mắt mông mông của con bé bỗng xốn xang”, “tình cảm cha con như bỗng trỗi dậy trong người nó”, “nó kêu thét lên: “Ba…a…a…ba!”. Sự khao khát tình cảm cha bị kìm nén suốt mấy năm, nay bỗng bật lên xé tan cả sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, “nghe thật xót xa”. Thế rồi, nó vừa kêu, vừa chạy tới, nhanh như một con sóc, “nó chạy thót lên và dang hai tay ôm siết lấy cổ ba nó”. Sự xúc động ngẹn ngào đã khiến “làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên”. Nó hôn khắp người ông Sáu, “hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Sợ cha đi mất, “chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân câu lấy ba nó và đôi vai nhỏ xíu của nó run run”. Sau khi nghe ông Sáu nói: “Ba đi rồi ba về với con”, bé Thu thét lên: “không!”.

Vừa khóc vừa không cho cha đi. Giọt nước mắt ấy là thể hiện của tình cha con ấm cúng, của sự hạnh phúc vỡ òa khi nhận thấy cha sau tám năm xa cách, lại vừa xen lẫn cả sự ăn năn, hối hận vì không kịp nhận thấy cha sớm hơn chút nữa… Chứng kiến cảnh ngộ ấy, có người đã không cầm được nước mắt, còn bác Ba thì cảm thấy như có bàn tay nắm lấy trái tim mình mà bóp thắt lại… Qua thái độ và hành động của bé Thu trước và sau khi nhận thấy ông Sáu là cha mình, người đọc thấy được đằng sau sự hồn nhiên, ngây thơ và cứng đầu, bướng bỉnh của bé là tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt, thiêng liêng. Đồng thời, người đọc cũng thấy được Nguyễn Quang Sáng là nhà văn rất am hiểu tâm lí và yêu thích trẻ thơ nên mới có những trang văn thật sinh động và cảm động về tình cha con đến như vậy!.

Trong Chiếc lược ngà, tình cảm của ông Sáu giành cho con cũng mãnh liệt, sâu nặng không kém. Tình cảm ấy được tác giả thể hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà và được mô tả kỹ lưỡng hơn khi ông ở căn cứ kháng chiến. Về tới chiến khu, ông Sáu cảm thấy day dứt, ân hận vì đã nóng giận đánh con. Ông dồn toàn bộ tình thương, nỗi nhớ con bằng việc làm một cây lược ngà – lời hứa với con trước lúc chia tay. tìm được khúc ngà voi, ông “hớn hở như một đứa trẻ được quà”, rồi dành hết tâm trí, tình cảm vào làm một cây lược. “Anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Trên sống lưng của chiếc lược có khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” mà ông gò lưng, khắc từng nét một. Chiếc lược ngà phần nào gỡ rối được tâm trạng của người cha. Chiếc lược trở thành vật quý giá mà ông dồn toàn bộ tình cảm yêu thương con của người cha sau tám năm ròng xa cách.

Vì thế, mỗi khi nhớ con, ông lại mang chiếc lược ra ngắm và chải lên tóc mình cho thêm bóng, thêm mượt. Nhưng rồi ông Sáu đã hi sinh trong một trận càn của giặc, khi còn vẫn chưa kịp trao cây lược cho con gái. Trước lúc tắt thở, không hề sức trăng trối lại điều gì, “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”, ông đã lấy cây lược mà ông thường mang theo bên mình rồi trao cho bác Ba và nhìn người bạn một hồi lâu, cái nhìn như gửi gắm sự ủy thác thiêng liêng. Chỉ khi nhận được lời hứa của bác Ba, “mang về tận nơi trao cho cháu” thì người cha mới nhắm mắt. Điều đó cho ta thấy tình cha con mãnh liệt và tha thiết của ông Sáu. Qua mẩu chuyện, người đọc không chỉ có cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng của ông Sáu mà còn thấm thía về những đau thương, mất mát, éo le mà chiến tranh đã gây ra. Đồng thời thấy được những hi sinh thầm lặng mà cao quý của những người lính trong chiến tranh…

Như vậy, qua việc phân tích ở trên, chúng ta thấy “Chiếc lược ngà” có một cốt truyện khá chặt chẽ, xây dựng được những tình huống bất ngờ hợp lí. Ngoài việc xây dựng thành công hai nhân vật chính bé Thu và ông Sáu, tác giả còn thành công trong việc lựa chọn nhân vật người kể chuyện: xưng “tôi”, ngôi thứ nhất, là ông Ba – người bạn tri kỷ thiết của ông Sáu trong chiến tranh. Ông không chỉ có dừng lại ở việc chứng kiến mẩu chuyện, rồi kể lại theo điểm nhìn của tôi mà cao hơn, ông Ba còn bày tỏ sự đồng cảm, san sẻ với những nhân vật như một người trong cuộc. Chọn nhân vật kể chuyện như vậy, khiến cho mẩu chuyện trở thành đáng tin cậy, tăng theo sự chân thực cho những tình tiết được kể. Người kể chuyện lại hoàn toàn chủ động điều khiển nhịp kể theo trạng thái cảm xúc của tôi, chủ động xen vào những ý kiến comment, suy nghĩ để dẫn dắt sự tiếp nhận của người đọc, người nghe…toàn bộ góp phần đắc lực tạo ra sự thành công của thiên truyện, cũng như ý nghĩa sâu sắc tư tưởng của tác phẩm được bộc lộ rõ hơn.

Tóm lại, qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà” chúng ta thực sự thấm thía và cảm động trước tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt của cha con ông Sáu trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Truyện không chỉ có dừng lại ở việc khắc họa tình cảm phụ tử mà còn có ý nghĩa sâu sắc tố cáo hiện thực, tố cáo chiến tranh đã đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đã phá tan đi biết bao nhiêu là hạnh phúc của những gia đình, khiến vợ ông xã xa cách, cha con xa nhau. Từ mẩu chuyện, chúng ta càng cảm thấy trân trọng hơn nền hòa dân dã tộc và càng quí trọng hơn tình cảm gia đình mà mở rộng ra là tình yêu quê tổ quốc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” số 6

Trong đời sống tự nhiên, người nào cũng thầm công nhận một điều rằng, tình cảm của con cái hình như thân thiết và gần gũi với mẹ hơn. Còn với cha thì sao? Tình cha bao la và hy sinh vì con cái cũng không kém gì người mẹ, đôi khi còn mãnh liệt và sâu sắc hơn. Là một chiến sỹ cách mạng xa nhà đi thoát ly cách mạng từ khi đứa con đầu lòng còn sắp đầy tuổi, mãi đến khi hòa bình lập lại ông Sáu mới có dịp về thăm nhà. Nôn nao và hạnh phúc khôn tả khi nghĩ đến giây phút gặp con, ông Sáu lại thấy đau khổ và vô vọng hơn khi con không nhận cha. Cuộc gặp gỡ sau 8 năm xa cách là mở đầu cho chuỗi những sự việc, thái độ, hành động thể hiện tình yêu thương cha mãnh liệt của Thu.

Xa cách bao năm, Thu và cha vẫn chưa một lần gặp mặt, ông Sáu “chỉ thấy con qua Bức Ảnh nhỏ luôn mang bên người”, bé Thu chỉ biết mặt cha qua tấm hình chụp chung với má. Xa cha, Thu nhớ thương cực kì và có vẻ như hình ảnh người cha trong Bức Ảnh đã in sâu vào trong trí nhớ của Thu, là hình ảnh đẹp nhất trong lòng Thu. Tám năm sau khi người cha trở về, chiến tranh đã làm ông có sự thay đổi lớn khiến Thu không thể nhận thấy cha mình.

Từ đằng xa thấy “một đứa bé độ tám tuổi, tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi” ông Sáu đoán biết là con, không chờ xuồng cập bến “anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra”. Linh tính của người cha cho ông biết đấy là con mình, trái tim người cha hướng ông mau mau chạy về phía con để ôm siết lấy cái hình hài máu mủ mà ông hằng thương nhớ trong bao năm xa cách. “Anh vừa bước, vừa khom người đưa tay đón chờ con… giọng lặp bặp run run: Ba đây con, ba đây con!”. Những tưởng cha con ông sẽ ôm chầm lấy nhau trong khoảnh khắc sung sướng thì trớ trêu thay con bé không nhận thấy ông, nó giật mình “tròn mắt nhìn…ngơ ngác, lạ lùng”. Mặt Thu tái đi em kêu lên, bỏ chạy và cầu cứu “Má! Má”. Với ông Sáu thái độ của Thu khiến ông hụt hẫng, đau đớn. Nhưng với Thu đây là phản ứng tâm lý tự nhiên. Bởi từ khi em lớn lên, ông Sáu đâu có ở bên cạnh, vẫn chưa khi nào em được trông thấy cha bằng xương, bằng thịt. Hôm nay một người đàn ông lạ lẫm với “vết thâm sẹo dài đỏ ửng, giật giật, trông rất dễ dàng sợ” đột ngột xuất hiện tự xưng là cha, làm sao em không sợ hãi? Một nghịch lý trớ trêu, đau xót cho người cha, một sự ngỡ ngàng, lạ lẫm cho đứa con được Nguyễn Quang Sáng mô tả thật sinh động, tài tình.

Những ngày sau đó, đáp lại tình cảm nồng nàn của cha, bé Thu lại càng tỏ ra sợ hãi, ngờ vực. Trong ba ngày phép ngắn ngủi, ông Sáu càng vỗ về, Thu càng lùi ra xa, ông càng chiều thương, nó càng lẩn tránh. Ông chỉ mong được nghe tiếng Ba mà sao khó khăn đến thế. Khi phải gọi ông Sáu ăn cơm, dẫu được mẹ nhắc nhở, Thu vẫn chỉ nói trổng “vô ăn cơm” hoặc “cơm chín rồi”. Đặc biệt trong một tình huống tưởng chừng cô nàng không thể ương bướng hơn được nữa vậy mà Thu vẫn quyết liệt. Đó là lúc nồi cơm sôi, một đứa bé không thể tự mình nhấc nồi để chắt nước. Tình thế đó cứ ngỡ rằng Thu sẽ ngoan ngoãn nhờ ba giúp. Nhưng không, trong cả khi bác Ba mở đường cho “Cháu phải gọi Ba chắt nước giùm con”, phải nói như vậy”, Thu vẫn không cất tiếng dẫu mấy lần em tỏ ra lo sợ bị mẹ đánh đòn nếu để cơm bị nhão. Bướng bỉnh và bất cần, Thu tự mình làm một công việc nguy hiểm và quá sức. tức là nó không chịu thua, không chịu nhượng bộ. Song đỉnh điểm của sự ương bướng được thể hiện khi Thu “hất tung cái trứng cá to vàng” mà ông Sáu gắp cho nó.

Bị đánh, nhưng Thu không khóc, lẳng lặng gắp lại cái trứng cá rồi bỏ sang nhà ngoại. Lúc cởi dây xuồng, nó còn cố ý khua dây xích “kêu rổn rảng” để tỏ ý bất bình, có lẽ nó muốn cho mọi người biết nó sắp đi để chạy ra dỗ dành. Một chuỗi những thái độ của Thu khiến ta rất có thể cho Thu là một cô nàng bướng bỉnh, cứng đầu. Nhưng xét căn nguyên sâu xa, không thể coi đó là thể hiện của sự ương ngạnh, cứng đầu, hỗn láo. Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, bé Thu còn quá nhỏ để hiểu được những tình thế khắc nghiệt éo le của cuộc sống, hơn nữa ba má bé Thu cũng không lường trước được sự việc để giải thích cho bé rõ.

Trong suy nghĩ non nớt của em, ông Sáu có vết thâm sẹo đáng sợ ấy sao chẳng giống hình ba chụp chung với má. Mà đã không phải là cha thì không thể gọi tiếng “ba”. Điều đó chi phối toàn bộ suy nghĩ, hành động của em. Sự bướng bỉnh của Thu không thể hiểu là sự ương ngạnh của một đứa trẻ khó dạy mà là sự kiên định của một cô nàng có lập trường yêu ghét phân minh. Trong thái độ cứng đầu chứa đựng sự kiêu hãng giành cho người cha thân yêu – người cha trong tấm hình chụp chung với má. Thế mới biết Thu là một cô nàng có cá tính. Điều mà ở những đứa trẻ bảy, tám tuổi thường không tồn tại. Đó cũng là nền móng tạo phẩm chất gan góc, dũng cảm của cô giao liên sau này.

Tình yêu cha của Thu được thể hiện ngay trong chính hành động bướng bỉnh. Vì cha, Thu kiên quyết từ chối sự quan tâm của ông Sáu, thương cha nên bao nhiêu yêu thương kính trọng được em giữ gìn trong tiếng Ba trìu mến. Với em, ba là duy nhất, không ai rất có thể thay thế tình yêu ấy khiến em tỏ rõ thái độ chán ghét những gì em hoài nghi là sự xâm phạm đến hình ảnh người cha yêu quý. Đó là nét đẹp phẩm chất nơi Thu khiến ta khâm phục. Nhưng khi được ngoại giải thích rõ về nguyên nhân vết thâm sẹo, thì sự nghi ngờ của em được giải tỏa”. “Nghe bà kể, nó nằm im lăn lộn, thỉnh thoảng thở dài như người lớn”. Sự mô tả nội tâm gian tiếp qua hành động cho thấy những tình cảm, cảm xúc đang trào dâng trong lòng em- yêu thương cha xen lẫn nỗi ân hận.

Hôm sau trở về nhà, nhìn mọi người vây quanh cha, vẻ mặt Thu buồn rầu “Cái nhìn của nó không ngơ ngác, lạnh lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi, sâu xa”. Và khi bắt gặp ánh nhìn của cha thì đôi mắt ấy như xốn xang. Cái “xốn xang” của đôi mắt như nói lên bao điều. Khi ông Sáu cất tiếng chào “Thôi ba đi nghe con” thì nỗi niềm trong nó bật tung thành tiếng “Ba…….a…a”. Tiếng kêu của nó như xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu lâu nay, tiếng ba như vỡ tung từ nỗi lòng nó. Đọc truyện ta như thấy cách Thu bộc lộ tình cảm với cha thật xúc động, là người ngoài cuộc ta cũng không khỏi nhói lòng. Yêu thương cha cực kì nên em quyết định lạnh lùng với ông Sáu. Thương cha nên em không thể dành tiếng “ba” để gọi người xa lạ. Thế nhưng khi biết ngọn nguồn vết thâm sẹo, biết đích xác là ba rồi, tình cảm nơi em vỗ òa, tức tưởi.

Cũng như bao đứa trẻ khác có cha trên đời, em mong được cha chăm chút, yêu thương. Nhưng xấu số thay, em xa cha từ bé, em đã trông ngóng biết bao ngày cha về nhưng chỉ tại vết thâm sẹo, mà Thu đã để mất ba ngày quý giá, làm tổn thương tình cảm cha mình. Chính vì thế cho nên ta không lạ gì Thu “ôm chặt lấy cổ ba nó… dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó. Nó hôn ba cùng khắp… hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Nếu như trước đây, Thu ghét ông Sáu bao nhiêu thì giờ đây tình cảm của em giành cho ông mãnh liệt bấy nhiêu. Ta nhận thấy hai thái độ ấy tuy trái ngược này thực ra lại nhất quán trong sự phát triển tính cách – tính cách của cô nàng dành trọn toàn bộ tình yêu cho người cha cực kì kính mến. Có người cho rằng tác giả xây dựng hình tượng bé Thu hơi thái quá, song thiết nghĩ thái độ ngang ngạnh đó cũng vì xuất phát từ tình yêu thương cha mãnh liệt. Với sự am hiểu tâm lý trẻ thơ, ngòi bút mô tả sinh động diễn biến tâm lý trẻ thơ của tác giả đã xây dựng nên một cô nàng Thu cứng cỏi, mạnh mẽ, sâu sắc trong tình cảm. Tâm lí và hành động của Thu được mô tả sinh động, sát với tâm lí lứa tuổi của em. Điểm nổi trội gợi sự xúc động của em là một tình cảm chân thành, mãnh liệt mà thánh thiện giành cho cha.

Trong Chiếc lược ngà, tình cảm của ông Sáu giành cho con cũng mãnh liệt, sâu nặng không kém. Tình cảm ấy được tác giả thể hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà và được mô tả kỹ lưỡng hơn khi ông ở căn cứ kháng chiến. Sau khi chia tay với gia đình, nỗi day dứt ân hận ám ảnh ông Sáu nhiều ngày là việc là ông lỡ tay đánh con. Nhớ lời dặn tha thiết của con, ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà nhỏ xinh tặng con. Tìm được một khúc ngà voi, “anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe… mặt hớn hở như đứa trẻ được quà”. “Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Tại sao chiếc lược bằng ngà mà không bằng một vật liệu gì khác? Phải chăng là để thể hiện tình yêu thương của ông đối với con? Chiếc lược ngà ấy rất quý, phải như thế mới xứng đáng với đứa con gái bé nhỏ của ông, với tình yêu ông giành cho nó.

Từng chiếc răng lược dần hiện ra là từng thú vui của ông. Bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Bao nhiêu bụi ngà rơi là bấy nhiêu tình cảm ông giành cho con. Trên sống lưng lược, ông còn gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét “Yêu nhớ tặng Thu con gái của ba”. Bao trìu mến thân thương toát lên từ hai chữ “Yêu nhớ”, bao nồng nàn, thấm đẫm nhớ nhung, yêu thương con của ông Sáu chứa đựng trong những chữ “Thu con của ba”. Cây lược ngà ấy vẫn chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh.” Có cây lược, ông càng mong được gặp con để trao tận nơi cho nó nhưng éo le thay, chiến tranh đã vô tình cướp đi của ông giây phút vui mừng trao cho con cây lược. Giây phút cuối, tình cảm cha con trong ông vẫn da diết, trước lúc nhắm mắt, dòng suy tưởng của ông vẫn nhớ về con mình. Trút hơi thở sau cùng, ông Sáu chỉ kịp gửi lại chiếc lược ngà cho đồng đội. Lần thứ nhất một người chiến sỹ trở thành một nghệ nhân sáng tạo tài tình dù chỉ sáng tạo một sản phẩm duy nhất Chiếc lược ngà. Người mất nhưng kỷ vật còn. Chiếc lược ngà là gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại, nó vẫn còn đó đấy mãi, là kết tinh của tình phụ tử mộc mạc, đơn sơ mà đằm thắm, kỳ diệu, là hiện hữu của tình cha con bất tử không khi nào chết được.

Bản thân là người Nam Bộ, là người lính từng chiến đấu xa nhà nên hơn ai hết Nguyễn Quang Sáng hiểu được tình cảm gia đình đối với người lính sâu đậm biết chừng nào. Kết cấu truyện với nhiều tình huống bất ngờ đã làm nổi trội vẻ đẹp tính cách của những nhân vật, gây xúc động sâu sắc cho người đọc. Chuyện được ghi theo lời kể của một chiến sỹ cách mạng – người bạn tri kỷ thiết của ông Sáu, khiến chuyện càng trở thành đáng tin cậy, trung thực.

Truyện Chiếc lược ngà là bài ca đẹp về tình cha con. Trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh, tình cảm thiêng liêng ấy càng cao đẹp và càng ngời sáng. Truyện không chỉ có nói lên tình cảm cha con thắm thiết sâu nặng mà còn gợi cho ta suy nghĩ thấm thía về những éo le, đau thương, mất mát mà chiến tranh gieo rắc cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình. Ta càng thấm thía rằng tình cảm gia đình là sức mạnh, niềm tin để con người rất có thể vượt qua toàn bộ, trong cả cái chết. Ta hiểu “Nếu trên đời có những nguồn vui chân chính và niềm hạnh phúc thật sự, thì nó sẽ nằm trong tổ ấm gia đình”.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” số 7

“Khi con tát cạn biển Đông

Thì con mới hiểu tấm lòng của cha”

Tình cảm cha con mãi mãi là đề tài sâu sắc và ý nghĩa sâu sắc. Nguyễn Quang Sáng thấu hiểu được vấn đề ấy nên đã có những bài văn viết về tình cha con rất đặc sắc. Nguyễn Quang Sáng tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông bắt đầu viết văn sau năm 1954 và đề tài chủ yếu là cuộc sống con người Nam Bộ. Ông sáng tác nhiều truyện ngắn nhưng tác phẩm tạo được tiếng vang nhất là truyện ngắn “Chiếc lược ngà”. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” được viết năm 1966 khi hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. “Chiếc lược ngà” đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong tình cảnh éo le của chiến tranh.

Chiến tranh đi qua nhưng mãi mãi để lại trong lòng mọi người một nổi khiếm khuyết, một nổi đau rất khó lành. Nó đã chia cắt con người ta rất nhiều thứ, như tình cảm gia đình, tình cha con hay tình mẫu tử. Thấu hiểu được nỗi đau khổ ấy, Nguyễn Quang Sáng đã viết nên một mẩu chuyện ngắn “Chiếc lược ngà” là mẩu chuyện về tình cha con gây xót xa người đọc. Tình huống chuyện được Nguyễn Quang Sáng xây dựng rất tinh ý. Tình huống thứ nhất là anh Sáu được về thăm nhà 3 ngày sau mấy năm trời xa cách. Thế nhưng éo le thay là bé Thu lại không chấp thuận anh Sáu là ba vì một số hiểu lầm của cô nàng. Nhưng đến khi anh Sáu sắp quay lại chiến khu thì cô nàng mới chịu nhận nah Sáu là ba. Tình huống thứ hai là khi quay lại chiến khu anh Sáu đã làm tặng con gái một chiếc lược ngà, nhưng vẫn chưa kịp trao tặng tay cho con thì anh Sáu đã hi sinh. Tình huống truyện có phần éo le, thảm kịch, nhưng tình tiết ra mắt đều rất tự nhiên như đúng ý tưởng phát minh mà nhà văn sáng tác nên.

Thu – một nhân vật được Nguyễn Quang Sáng xây dựng đặc sắc với ngôn ngữ thoại và tính cách nổi trội. thứ nhất, là thái độ và hành động của bé Thu trước khi nhận anh Sáu là ba. Một cô nàng sống với mẹ sau mấy năm trời rồng rã xa bố. Thu chỉ biết nhìn bố qua Bức Ảnh mẹ đưa. Đến khi thuyền anh Sáu cập bến anh cất tiếng gọi “Thu!Con” đã làm cô nàng giật mình. Một cô nàng chừng tám tuổi, “tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi”. Với cái độ tuổi và sự hồn nhiên ấy sẽ dễ bị hoảng sợ khi gặp một người lạ mà có cách kêu thân thiết với mình. Bé Thu “giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”. Một cảm giác hoảng hốt và đầy nỗi sợ hãi của Bé Thu. Với việc mô tả tâm lí nhân vật qua tài tình Nguyễn Quang Sáng đã tái hiện lại y rất thật với cách viết rất tinh ý. Sau đó con bé “vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má”. Tiếng kêu ấy như xé lòng, cho thấy bé Thu thật sự rất sợ hãi. Bé chỉ biết dựa vào mẹ của tôi, vì nhiều năm trời chỉ biết mỗi có mẹ. Một sự thiếu thốn tình cảm ấy khiến cô nàng trở thành cũng đáng thương. Những nổi đau khổ ấy đều cho chiến tranh mà ra.

Khi anh Sáu ở nhà ba ngày đã có những lần anh Sáu và bé Thu gaio tiếp với nhau nhưng toàn bộ con bé đều reply trống rỗng không đầu không đuối khiến anh Sáu đau lòng. Như gọi anh Sáu ăn cơm bé Thu nói rỗng: “Vô ăn cơm” hay “cơm chín rồi”. Với cách mô tả tâm lí nhân vật đặc sắc và am hiểu tính cách trẻ con nên tác giả đã xây dựng những câu thoại rất tự nhiên và hợp tình hợp lí. Từ đó, khiến không ít đọc giả đau lòng thay anh Sáu biết bao. Xa con bao nhiêu năm rồng rã, ngày trở về chỉ mong con gái nhận ba. Nhưng hoàn cảnh đã đi ngược lại mọi dự tính cảu anh Sáu, toàn bộ đều khiến anh đau lòng. Ngoài ra cô nàng này còn nhiều lần nói rỗng khi vẫn chưa chịu nhận anh Sáu là ba như: “Cơm sôi rồi chắc nước giùm cái!” hay “Cơm sôi rồi nhão hiện giờ”.

Những lời nói trống không ấy không thể nào trách cứ được bé Thu vì đó cũng là tâm lí của bao đứa trẻ con trong hoàn cảnh ấy. trong cả khi lên ăn cơm anh Sáu gắp cá cho mà cô nàng còn hất văng ra đất. Sự ương ngạnh của bé Thu đúng là tâm lí và tính cách trẻ con nên không đáng trách. Trong hoàn cảnh chiến tranh, Thu còn quả nhỏ nên không thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt, éo le. Phản ứng rất tự nhiên chứng tỏ bé Thu có cả tính mạnh mẽ, tình cảm sâu sắc và chân thực. Bé chỉ yêu khi tin chắc người đó đúng là ba của tôi. Trong thái độ cứng đầu của bé chứa đựng cả sự kiêu hãnh giành cho người cha thân yêu – tức là người đàn ông điển trai trong tấm hình chụp chung với má.

Bé Thu mãi mãi là cô nàng đáng yêu nhất trong việc xây dựng nhân vật trong truyện ngắn này của tác giả Nguyễn Quang Sáng. Sau toàn bộ tác giả cũng để cho nhân vật mình nhận thấy ba của tôi, một chuỗi chi tiết lấy đi không ít nước mắt của người đọc, người nghe. Bé Thu nhận thấy ba khi được bà ngoại dạy và kể mẩu chuyện cảm động: Thu không nhận anh Sáu là ba vì trên mặt anh Sáu có vết thâm sẹo dài không giống như lúc mẹ cho Thu coi. Bà đã kể đó là vết thâm sẹo đó do anh Sáu đi đánh Tây để lại. cô nàng hiểu chuyện nên đã biết mình nên làm gì vào sáng hôm sau khi anh Sáu chuẩn bị quay lại chiến trường. Thu đã nhận được ba: con bé kêu thét lên: “Ba…a…a…! Ba!”.

Tiếng kêu ấy thật xé lòng cả anh Sáu và lẫn bé Thu và biết bao những người chứng kiến lúc ấy. Những Điều này cho thấy nghệ thuật tài hoa trong việc mô tả tâm lí và diễn biến cốt chuyện của Nguyễn Quang Sáng. cô nàng Thu đã ôm chầm lấy ba của tôi và nhất định không cho ba đi: “Con bé hét lên, hai tay ôm chặt lấy cổ…”. Chi tiết ấy được Nguyễn Quang Sáng mô tả rất chân thực và lấy đi không ít nước mắt của độc giả. Qua việc mô tả diễn biến tâm lí, ngôn ngữ và hành động của bé Thu, tác giả đã làm nổi rõ một số nét trong tính cách nhân vật. Tình cảm cha con của bé Thu thật sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng cũng thật dứt khoát, rạch ròi. Cá tính của bé Thu cứng cỏi đến mức ương ngạnh, nhưng thực ra Thu rất hồn nhiên, ngây thơ. Tác giả tỏ ra am hiểu và diễn tả rất sinh động tình cảm trẻ thơ trong sáng.

“Người ba nào mà chẳng thương con-chỉ là cách thể hiện tình cảm của mỗi người mỗi khác”. Câu nói ấy thật đúng! Anh Sáu khi quay lại chiến trường đã luôn thương nhớ về đứa con gái bé bổng của tôi. Lúc chuẩn bị ra đi anh Sáu “Hai tay buông lỏng xuống như bị gãy…” Anh Sáu lúc ấy rất đau khổ, đau hơn cả trăm mũi tên cùng bắn vào tim anh. Cảm giác ấy có lẽ ai đó đã làm ba sẽ hiểu, nhưng với lối viết và ngôn ngữ gợi tả tinh ý chi tiết đã làm mọi người đều cảm nhận sự đau khổ cực độ của anh Sáu. Anh thương con! Thương hơn cả sinh mệnh của bản thân anh. Nhưng vẫn còn đó đấy chuyện làm anh ray rưc mãi là đã đánh bé Thu trong lúc con bé ương ngạnh không nhận tình cảm của anh.

Về chiến khu anh đã làm ngay một chiếc lược ngà bằng toàn bộ tình yêu và tâm huyết. Anh vui mừng khi tìm được “khúc ngà” và “mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”! “Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Những chi tiết ấy được Nguyễn Quang Sáng mô tả tỉ mỉ và rất chân thực. Điều đó làm người đọc cảm nhận được nhiều hơn thế nữa tình cảm và tâm huyết của anh Sáu vào chiếc lược ngà. Anh mong muốn với chiếc lược này sẽ chảy lên máy tóc óng ánh của con gái, chảy đi bao muộn phiền uẩn khúc của hai cha con. Để mai này con gái anh lớn lên nó sẽ luôn nhớ về người ba từng yêu con bé rất sâu sắc!

Với việc xây dựng tính cách và tâm lí nhân vật rất tinh ý, sâu sắc, tình huống truyện tự nhiên hợp lí. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã tái hiện chân thực và sâu sắc về tình cảm cha con sâu nặng. Qua đó, tố cáo tội ác chiến tranh đã gây ra biết bao nghịch cảnh éo le, ngang trái mà điển hình là mẩu chuyện của cha con bé Thu và anh Sáu. Nhưng sau toàn bộ “ba vẫn mãi là ba của con” đúng như câu nói ấy. Bé Thu, anh Sáu đã trao yêu thương cho nhau qua “Chiếc lược ngà” mà anh Sáu dành tặng cho con gái-đó là tài sản quý báu nhất của bé Thu! Từ đó, tác giả đã cho ta thấy một triết lí sống rất nhân văn:

“ Cha là toàn bộ cha ơi

Ngàn năm con vẫn trọn đời yêu thương”

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” số 8

Trong suốt quãng đời cầm bút của tôi, có những nhà văn chỉ ghi lại dấu ấn bằng một vài tác phẩm nhưng tiếng vang của nó lại lưu truyền mãi qua nhiều thế hệ độc giả. “Chiếc lược ngà” là một tác phẩm như thế. Đây là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nó đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về tình cảm cha con sâu nặng trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.

Tác phẩm được viết năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ những năm kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Truyện kể về cuộc gựp gỡ ngắn ngủi của anh Sáu – chiến sĩ cách mạng với ba ngày phép và bé Thu – con gái của anh. Những gì bé Thu biết về bố nó chỉ là hình ảnh anh Sáu trong Bức hình chụp chung với mẹ nó ngày cưới nhau. Hồi đó, bố nó vẫn chưa tồn tại vết thâm sẹo trên mặt.

Phân tích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang SángSau bao nhiêu năm xa cách, anh Sáu ngày trở về trở thành một người đàn ông già dặn, nếm đủ mọi sương gió và phải gánh chịu hậu quả mà chiến tranh để lại – vết thâm sẹo trên má làm khuôn mặt anh có phần biến dạng. Chính vết thâm sẹo đó đã khiến bé Thu nhất quyết không chịu nhận lại cha của tôi cho tới khi anh sắp lên đường quay lại chiến trường gian khó, ác liệt. Giây phút nó chạy đến ôm chầm lấy ba “Không cho ba đi. Ba phải ở nhà với con” khiến cho cả tác phẩm bừng sáng tình cha con, khiến nhiều độc giả phải nghẹn ngào bật khóc. Khi quay quay về chiến trường, anh Sáu vẫn nhớ lời hứa với con. Anh làm tặng bé Thu một chiếc lược ngà nhưng vẫn chưa kịp trao cho con anh đã hy sinh nơi chiến trường. Chiếc lược được một người đồng chí của anh là bác Ba đưa lại cho bé Thu.

Tình cảm cha con sâu nặng được thể hiện qua hai tình huống. thứ nhất là cuộc gặp gỡ của hai cha con ông Sáu sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận cha, đến lúc em nhận thấy và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải lên đường. Tình huống hai, ở khu căn cứ, ông Sáu dồn toàn bộ tình yêu thương và lòng mong nhớ đứa con vào việc làm cây lược ngà nhưng ông đã hi sinh khi vẫn chưa kịp trao món quà ấy cho con gái. Như vậy mẩu chuyện đã đi từ tình yêu mãnh liệt của bé Thu giành cho cha đến tình cảm sâu sắc, thắm thiết mà ông Sáu giành cho đứa con của tôi. rất có thể thấy, đây là tình huống đầy éo le mà chúng ta thường gặp trong chiến tranh.

Tình tiết éo le của chuyện bắt đầu từ cuộc gặp gỡ của hai cha con sau bảy năm xa cách. tương tự như Thu, anh Sáu chỉ thấy con qua Bức Ảnh nhỏ luôn mang bên người. Tình cảm cha con chất chứa bao năm khiến anh không khỏi xúc động khi trở về, nhìn thấy đứa con gái nhỏ của tôi: “Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi, tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoán biết là con, không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với. Anh bước vội vàng với những bước dài, rồi dừng lại kêu to: Thu! Con!”.

Nhưng thật trớ trêu, đáp lại tình cảm nồng nàn của người cha, bé Thu lại tỏ ra sợ hãi và ngờ vực: “Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Lần thứ nhất nhìn thấy người đàn ông lạ, lại xưng là ba, con bé hết sức ngạc nhiên và sợ hãi, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “Má ! Má !”. Anh Sáu càng muốn gần con để vỗ về yêu thương thì đứa con lại càng tỏ ra lạnh nhạt, xa lánh bởi trong mắt nó anh không giống người cha trong Bức Ảnh chụp chung với mẹ. Khi má bảo gọi cha vào ăn cơm nó nhất quyết không chịu nhưng vì má ép quá nó cũng chỉ gọi trống không “Vô ăn cơm”. Khi má không tồn tận nơi, nó lâm vào thế bí, muốn nhờ anh Sáu chắt bớt nước nồi cơm đang sôi mà nó vẫn giữ thái độ xa lánh, nhất quyết không chịu gọi một tiếng cha.

Đến bữa cơm, anh Sáu yêu chiều gắp cho nó một miếng trứng cá vàng ươm nhưng nó lại bất ngờ lấy đữa hất rơi xuống đất. Hành động ngang ngược của nó đã khiến anh Sáu tức giận, anh ra tay đánh nó. Trước hành động đó của cha, bé Thu chỉ “lặng lẽ đứng lên, bước ra khỏi mâm” bỏ ăn, chèo xuồng về nhà bà ngoại bên kia sông. Lúc cởi dây xuồng, nó còn cố ý khua dây xích kêu rộn ràng để tỏ ý bất bình.

Thật ra đằng sau sự ương ngạnh kia của Thu là tình yêu vô bờ bến mà cô nàng giành cho cha của tôi. Anh Sáu ngày trở về đã không hề giống với Bức hình chụp chung với má. Bé Thu còn quá nhỏ để rất có thể hiểu ra những khắc nghiệt mà chiến tranh mang đến. Có trách thì phải trách chiến tranh đã vô tình trở thành bức ngăn tình yêu thương của một cô nàng giành cho cha mình.

Nhưng khi về nhà bà ngoại, nó đã hiểu ra mọi chuyện. Bà ngoại đã kể cho nó nghe nguyên nhân của vết thâm sẹo là do giặc Pháp đã làm cha nó bị thương. Khi sự nghi ngờ được xóa khỏi bé Thu cực kì ân hận, day dứt về cách cư xử lạnh nhạt của tôi với cha. Vì thế, hết ba ngày phép của cha, trước giờ phút chia tay, tình yêu và nỗi mong nhớ của Thu như bừng cháy. Nó cất tiếng “Ba” thứ nhất.

Tiếng “Ba” như xé lòng, xé tan đi sự im lặng, cào xé cả tâm can của tất thẩy mọi người. Đó là tiếng “ba” mà nó đè nén bao nhiêu năm nay, là tiếng “Ba” mà anh Sáu đã mong chờ suốt ngần ấy thời gian. Tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa… Hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ xíu của nó run run. Tiếng gọi “ba” như cào xé, cái ôm thật chặt đầy nồng thắm ấy khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào xúc động.

Sau khi chia tay với gia đình, nỗi day dứt, ân hận ám ảnh anh Sáu suốt nhiều ngày là việc anh đã lỡ tay đánh con. Lời dặn tha thiết của đứa con: “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba!”, đã thôi thúc anh nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà nhỏ xinh dành tặng con gái. Chiếc lược là báu vật anh dành toàn bộ tình yêu thương của tôi vào đó nhưng vẫn chưa kịp trao nó cho Thu anh đã hi sinh nơi chiến trường. Chiếc lược từ món quà dành tặng con trở thành kỷ vật anh để lại cho con với dòng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

Sức hấp dẫn của “Chiếc lược ngà” cũng đó là toát ra từ tình cảm cha con sâu nặng ấy. Một cốt truyện đơn giản mà chặt chẽ, cùng những yếu tố bất ngờ mà hợp lí đã tạo được sự bất ngờ đầy được hứng thú cho người đọc, nhất là khi hiểu được diễn biến lôgic ở bên trong những sự việc, hành động có vẻ xích míc.

rất có thể thấy, truyện ngắn “Chiếc lược ngà” đã diễn tả chân thực tình cha con thắm thiết, sâu nặng. Trong hoàn cảnh chiến tranh, tình cảm ấy càng thiêng liêng, ngời sáng. Đặc biệt, ẩn sau mẩu chuyện được kể một cách khách quan là tiếng nói lên án chiến tranh xâm lược gây bao đau khổ cho con người. Với hai lớp phản ánh hiện thực và nhân đạo đan xen nhau cùng với những gì mà nó thể hiện, “Chiếc lược ngà” xứng đáng là tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Quang Sáng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” số 9

Tác phẩm “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn viết về tình phụ tử cực kì sâu sắc, của cha con nhà bé Thu trong chiến tranh kháng chiến chống Mỹ. Đây là một mẩu chuyện có cốt truyện giản dị nhưng đựng được nhiều bất ngờ, thể hiện cái nhìn nhân sinh quan sâu sắc của tác giả Nguyễn Quang Sáng.

trải qua mẩu chuyện tác giả muốn tố cáo tội ác của chiến tranh, đã chia cắt tình cảm cha con, gia đình mang nhiều thương đau tới người dân đau khổ. Truyện ngắn xoay quanh hai cha con ông Sáu và bé Thu. Ông Sáu tham gia lực lượng vũ trang khi bé Thu chỉ là một phôi thai nằm trong bụng mẹ. Bé Thu ra mắt, đã bảy tám năm nhưng vẫn chưa gặp cha mình lần nào. Nó chỉ được nghe mẹ kể về bà và xem hình ba qua Bức hình cưới đen trắng mà thôi.

Ngày ông Sáu được nghỉ phép ít ngày về thăm gia đình, lần thứ nhất nhìn thấy con gái mình ông cực kì nghẹn ngào xúc động. Ông Sáu chạy tới ôm con gọi lớn “Thu ơi! Ba đây con” Nhưng đáp lại tình cảm sâu sắc mãnh liệt của ông Sáu là thái độ hờ hững, tìm cách thoát khỏi vòng tay của người cha. Bé Thu chạy vào trong nhà gọi mẹ. Những ngày tháng hai cha con sống chung cũng đều có nhiều tình tiết khiến nhiều người phải suy nghĩ. trong lúc ông Sáu tìm đủ mọi cách để được gần gũi con, để được chăm sóc cho con gái những ngày được ở nhà, thì bé Thu lại cực kì ngang ngạnh gai góc cương quyết không chịu nhận Ba.

Trong bữa cơm, khi mẹ bảo Thu ra kêu bà vào ăn cơm. Nó chỉ ra ngoài và gọi trống không “vô ăn cơm!”. Sự gai góc, ngang ngạnh của con bé Thu khiến anh Sáu nhiều khi vừa tức giận, vừa cảm thấy thương nó. Có lần mẹ đi chợ xa, nó ở nhà nấu cơm, muốn đổ bớt nước trong nồi cơm cho cơm khỏi nhão. Nhưng sức nó yếu cái bếp lại cao nó không làm được điều đó. Ông Sáu quan sát bé Thu loay hoay bên nồi cơm xem thử con bé có chịu kêu mình bằng ba để nhờ sự giúp đỡ hay không. Nhưng không nó không bắt được nồi cơm khỏi bếp nhưng nó rất thông minh khi lấy cái muôi cơm xúc từng ít nước đổ đi.

Trong bữa cơm gia đình quây quần bên nhau, ông Sáu muốn tăng cường tình cảm cha con muốn gần gũi chăm sóc con nhiều hơn thế nữa nên gắp cho con một miếng trứng cá thơm ngon nhất. Nhưng còn bé hất mạnh tay làm cho miếng trứng cá rơi văng ra nền đất. Bực quá, ông Sáu phát cho con mấy cái vào đít. Con bé không khóc lóc mà nó chạy ra ngoài sông lấy chèo thuyền qua nhà bà ngoại, tối đó nó ngủ ở bên đó.

Nhờ bà ngoại giảng giải, và nói lên nguyên nhân của những vết thâm sẹo trên khuôn mặt của ông Sáu mà bé Thu đã hiểu ra toàn bộ. Hóa ra lâu nay nay bé Thu không chịu nhận ông Sáu làm cha chính vì nó thấy ông Sáu không giống với người cha trong ảnh mà nó thường nhìn thấy. Những vết thâm sẹo gớm ghiếc trên mặt ông làm cho con bé Thu không thể nào nhận thấy ông được.

Nhưng khi bé Thu biết được đó đó là cha mình, những vết thâm sẹo trên mặt ông Sáu là vì dân vì nước, vì bảo vệ mẹ con Thu mà có thì bé Thu đã khóc. Nó lặng lẽ lau những giọt nước mắt trên khuôn mặt mình khi nghe bà ngoại kể về những chiến công của cha, những khó khăn vất vả mà cha nói phải đối diện ngoài chiến trường.

Rồi ba ngày nghỉ phép cũng hết, ngày ông Sáu phải lên đường đi chiến đấu cũng đã tới, giây phút chia tay, tiễn biệt, nghẹn ngào. Ông Sáu nói với bé Thu “Ba đi nghe con” trong giây phút ấy bé Thu đã thực sự trở thành một cô nàng đúng tuổi của tôi. Nó gọi lớn “Không cho ba đi, ba phải ở nhà với con” rồi ôm chầm lấy ông Sáu mà khóc. Tình cảm cha con trào dâng mãnh liệt, tiếng ba được dồn nén, kìm kẹp quá lâu nay được phát ra cực kì nghẹn ngào.

Rồi ông Sau đi, bé Thu dặn dò “Ba mua cho một cây lược nghe”. Trong những ngày ông Sáu ở chiến trường ngoài những giờ phút đánh trận hiểm nguy, thì cứ lúc nào rảnh không lại ngồi để khắc cho con một chiếc lược ngà. Ông Sáu tỉ mỉ, mài từng cái răng của chiếc lược. Ông là nó bằng cả trái tim yêu thương của một người cha giành cho đứa con gái bé nhỏ của tôi.

Rồi trong một lần tác chiến ông Sáu đã anh dũng hy sinh, máu nhuộm đỏ chiếc lược ngà ông để trong túi áo. Trong giây phút sinh tử hấp hối đó, ông Sáu đã lấy chiếc lược ngà ra trao cho người đồng đội thân thiết nhất của tôi ông Quang và dặn dò ông Quang hãy trao tận nơi cho con gái mình bé Thu chiếc lược ngà đó và nói với nó rằng “Ba rất yêu con”. Ông Sáu ra đi vì tiếng gọi thân thương của quê tổ quốc, vì độc lập của dân tộc Việt Nam, để bảo vệ mảnh đất và những con người ông yêu thương. Ông Sáu mãi mãi không thể nào hội ngộ bé Thu được nữa, chiếc lược ngà ông Sáu làm tặng con là món quà thứ nhất và duy nhất mà ông để lại cho đứa con gái bé nhỏ của tôi. Nó là một món quà vô giá, thấm đẫm tình cảm cha con, tình phụ tử thiêng liêng.

Tuy ông Sau không hề nữa, ông đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường rừng thiêng nước độc, nhưng, mẩu chuyện cảm động về chiếc lược ngà và tình cảm cha con ông sẽ là một nhân chứng cho nỗi đau mà chiến tranh đã gây ra cho người dân của chúng ta. trải qua tác phẩm này nhà văn Nguyễn Quang Sáng muốn tố cáo tội ác của chiến tranh đã làm cho nhiều gia đình Việt Nam phải nhà ta cửa nát, cha con không được gần gũi đoàn viên.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” số 10

Nếu biển khơi có sóng nổ sóng chìm khi dịu êm lặng lẽ lúc cuộn sóng trào dâng thì cuộc đời cũng đều có bao tình huống bất ngờ xảy ra,nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt để thử thách tình cảm con người.

Truyện ngắn “Chiếc Lược Ngà” (1966) Của Nguyễn Quang Sáng cũng được xây dựng nên từ một tình huống éo le như thế để khắc sâu tình cha con thiêng liêng sâu nặng.Vang vọng suốt mẩu chuyện, suốt những quãng đời, suốt những cuộc đời ấy chỉ là một tiếng kêu, một tiếng kêu bình dị và thiêng liêng nhất trong cuộc đời mỗt con người: “Ba”

Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ,như bao nhiêu con người Việt Nam “tuốt gươm ko chịu sống quỳ” khác ông Sáu khoác balo lên đường kháng chiến,tạm biệt quê,gia đình và đứa con gái vẫn chưa tròn một tuổi.Giữa chiến trường bom rơi đạn nổ không thể gặp con,bao yêu thương nhung nhớ chất đầy trong trái tim người cha ấy. Ông trở về thăm nhà khi đứa con đã 8 tuổi. Ông vui mừng biết bao, xúc động biết bao, đến nghẹn lại, đến cả vết thâm sẹo bên má cũng giật giật khi được hội ngộ đứa con gái mà ngày đêm ông hằng nhớ thương. Đáp lại sự vồ vập mong chờ của người cha bé Thu lại tỏ ra ngờ vực,lạnh lùng lảng tránh ba.Qua việc xây dựng một cô nàng gái gan góc t/g đã thể hiện bút pháp phân tích tâm lí đặc sắc.

Trong tâm hồn ngây thơ của cô nàng thì người cha chụp ảnh với mẹ nó ngày xưa mới là cha nó còn người đàn ông có vết thâm sẹo dài trên má kia thì không phải,cha nó không tồn tại viết sẹo xấu xí đó nên nó nhất định không chịu gọi ông Sáu là cha.Khao khát đốt lòng ông Sáu là được gặp con được nghe con gọi ba, được sống trong tình ruột thịt ấm cúng,có ba có con, có cả gia đình trong những phút giây ngắn ngủi.Vì thế ông tìm mọi cách vỗ về làm thân và bày tỏ tình cảm chân thực của tôi nhưng đáp lại là sự hoảng sợ, chán ghét, xa lánh của con gái. Có một tình thế người đọc tưởng như cô nàng 8 tuổi kia sẽ không thể ương ngạnh được nữa,nó sẽ phải gọi ba.Nồi cơm to đang sôi, mẹ thì không tồn tại ở nhà,nó cần sự giúp đỡ của người lớn,chỉ một tiếng ba bé Thu sẽ giải quyết được khó khăn ngoài tầm với của nó,nó sẽ phải gọi ba.

Nhưng không !Dứt khoát là không! Người đàn ông có vết thâm sẹo ấy không phải là ba nó,nó không gọi, nó tự lấy muôi múc nước, nó tự làm lấy công việc nguy hiểm và quá sức ấy. Chính Điều này đã làm cho không chỉ có người cha, bạn của người cha mà làm cho cả người đọc chúng ta đau lòng bởi còn gì đau xót hơn khi tình phụ tử thiêng liêng ấy của ông Sáu bị chính đứa con quyết chối bỏ.

Trong bữ cơm thân thiết ấm cúng của gia đình, ông Sáu ân cần gắp vào bát con gái cái trứng cá, Thu cầm đũa xoi và trong bát, tưởng cô nàng đã nguôi ngoai rồi,nhưng thật bất ngờ nó hất tung cái trứng cá – món quà tình nghĩa của người cha ra khỏi bát cơm. Người cha mong ngày mong đêm để được gặp con,được nghe con gọi một tiếng cha, hết sức yêu thương chăm sóc con cũng không thể ngờ được có chuyện ấy. Đau xót, bất lực, vô vọng, tức giận ông đã đánh con gái. Tình huống đã lên đến cao trào,mọi chuyện rồi sẽ thế nào đây? Nhưng bị ba đánh, bé Thu không hề khóc lóc, khẩn xin mà lặng lẽ rời khỏi mân cơm bỏ về nhà bà ngoại.Hành động ương ngạnh tưởng như đáng ghét ấy của Thu lại là thể hiện tuyệt vời của tình thương yêu vô bờ mà nó giành cho ba nó,người trong Bức Ảnh chụp với má nó.Trong sự ương ngạnh quyết liệt ấy còn chứa đựng niềm kiêu hãnh trẻ thơ về tình phụ tử thiêng liêng mà không gì rất có thể mua chuộc hay đánh đổi.Chính tính cách kiên định dứt khoát ấy đã làm nên thực chất ngoan cường của cô giao liên sau này.

Bỏ về nhà bà ngoại, Thu được bà giảng giải cho vết thâm sẹo dài trên má của ba.Lúc ấy nó mới vỡ lẽ ra Thì ra bom đạn chiến tranh tàm bạo đã làm cho người cha anh dũng của nó phải mạng viết sẹo dài trên má.Tình yêu thương cha của nó hiện giờ còn có cả lòng hãnh diện và ngưỡng một nữa.Nhưng lúc nó vỡ lẽ ra thì ba nó phải đi mất rồi,ba nó lại phải xa mẹ con nó.Thu ân hận, day dứt,hối tiếc và cảm thấy có lỗi với ba nhiều lắm, “nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn.”Những cảm xúc của cô nàng thật chân thực và sâu sắc.

Lại một ngày chia tay nữa, ông Sáu lại phải tạm biệt quê,gia đình và đứa con gái hiện giờ đã 8 tuổi,tạm biệt để lên đường và trận chiến đấu mới. Đúng lúc không ai ngờ nhất, đúng lúc ông Sáu tưởng như đã hết mong muốn, đúng lúc ấy cô con gái đã cất lên tiếng kêu “ba “xé lòng,tiếng kêu xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người.”. Tiếng kêu mà ông Sáu đã mong chờ suốt những năm tháng xa cách, đã mong chờ suốt những ngày trở về bên con,cũng là “tiếng ba mà nó đè nén bao nhiêu năm nay”,giờ thì nó đã vỡ oà ra nhưng trong lòng người đọc như có cái gì nghẹn ắng lại.Không dừng lại ở đó nó còn bày tỏ tình cảm với người ba của nó một cách mãnh liệt,nồng nàn: “Nó hôn ba nó khắp mọi nơi.Nó hôn tóc, nó hôn cổ,hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa” Người cha không cầm nổ nước mắt vì sung suớng, vì cảm động và cũng vì cảnh ngộ éo le của tôi, ông phải đi rồi.

Trong những ngày tháng chiến tranh gian khổ,khó khăn,thiếu thôn đủ thứ, ông Sáu vẫn không nguôi nhớ con và lại càng day dứt khi đã đánh con.”Nỗi khổ tâm cứ giày vò” ông.“Ba về !Ba mua cây lược cho con nghe ba” đó là mong ước thứ nhất của đứa con gái bé nhỏ trong lúc cha con từ biệt vì thế ông đã cố công kiếm một chiếc ngà voi để làm lược cho con.Một phần là vì trong rừng không mua được lược mà vì lược cho con gái ông phải làm từ vật liệu quý như thế,chiếc lược do chính tay cha làm cho con gái.Chiếc lược gỡ rối tâm tư nhớ nhung và day dứt vì đánh con của ông. Đau lòng biết bao, kỉ vật thứ nhất ông làm cho con gái cũng đó là kỉ vật sau cùng.Trong giờ phút đối mặt với thận chết thì phụ tử thiêng liêng vẫn sống trong lòng ông,kỉ vật ấy ông nhất định phải tặng cho con gái, phải giữ lời hứa với con.Chỉ khi người đồng đội hứa sẽ trao tận nơi cho con ông mới nhắm mắt đi xuôi.

Với nghệ thuật mô tả tâm lí nhân vật đắc sắc,ngôn ngữ giản dị mộc mạc, xây dựng tình huống bất ngờ, éo le Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện một cách cảm động tình cha con thiêng liêng sâu nặng,giữa đạn bom khói lửa,sự sống và cái chết mong manh tình phụ tử thiêng liêng ấy không một thứ gì rất có thể tiêu diệt được mà nó lại càng bên bỉ hơn, sáng đẹp hơn lúc nào hết. “Tình cha ấm cúng như vầng thái dương…” .

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng hay nhất, Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng hay nhất, Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *